PHONG THỦY

Hướng dẫn cách xem hướng nhà,vị trí tốt, xấu trong nhà theo tuổi gia chủ :

Chương I: Bát trạch và hướng nhà trong phong thủy

Phần 1 : CHỌN HƯỚNG HỢP TUỔI

Chuyên mục: PHONG THỦY HỌC TRONG THIẾT KẾ NHÀ Ở

Không phải ngẫu nhiên mà là một quá trình nghiên cứu tích lũy của các bậc tiền bối để nghiên cứu ra được sự tương sinh tương khắc giữa ngũ hành, sự liên hệ mật thiết giữa bát quái, ngũ hành và phương vị. Dưới đây là cách tìm hướng tốt cho tuổi của mình, đồng thời cũng biết được các hướng xấu để phòng tránh khi làm nhà, mở cửa hàng, mở công ty…

Trong phong thủy, Ngũ hành, Bát Quái và Tám phương vị đều được chia thành hai loại chính là Đông và Tây, thường được gọi chung là Đông tứ trạch (hoặc Đông tứ mệnh) và Tây tứ trạch (hoặc Tây tứ mệnh).

Đối với Ngũ hành:

– Thủy, Hỏa, Mộc thuộc Đông tứ trạch

– Thổ, Kim thuộc Tây tứ trạch

Đối với Bát quái:

– Khảm, Chấn, Tốn, Li thuộc Đông tứ trạch

– Càn, Khôn, Cấn, Đoài thuộc Tây tứ trạch

Đối với 8 phương vị:

– Đông, Nam, Bắc, Đông Nam thuộc Đông tứ trạch

– Tây, Tây Nam, Tây Bắc, Đông Bắc thuộc Tây tứ trạch

Theo sự trình bày ở trên thì việc tìm hướng tốt xấu thực chất là tìm xem tuổi của mình thuộc Đông tứ trạch hay Tây tứ trạch. Nếu thuộc Đông, thì các hướng tốt là Đông, Nam, Bắc và Đông Nam, các hướng còn lại là xấu. Nếu thuộc Tây thì các hướng tốt sẽ là Tây, Tây Nam, Tây Bắc và Đông Bắc, các hướng còn lại là xấu. Và để tìm xem mình thuộc Đông tứ trạch hay Tây tứ trạch thì lại phải xem tuổi mình thuộc cung nào trong Bát quái, cung ở đây là “CUNG PHI” (khác với cung bát quái). Cung phi sẽ có sự khác biệt giữa nam và nữ, vì thế nếu nam và nữ cùng tuổi thì hướng hợp tuổi sẽ hoàn toàn khác nhau. Cách tính “cung phi” dựa trên số dư của công thức sẽ được trình bày bên dưới, mỗi một số dư sẽ tương ứng với một “cung phi” trong Bát quái.

CÁCH TÌM HƯỚNG TỐT XẤU THEO TUỔI

Bước 1: tìm số dư theo tuổi

Công thức tìm SỐ DƯ đối với NAM (SDnam):

SDnam=(100-năm sinh)/9 (chú ý: năm sinh chỉ lấy hai số sau)

Ví dụ: NAM sinh năm 1984, ta tính SD như sau:

SDnam=(100-84)/9=16/9 = 1 dư 7, vậy SD của người Nam sinh năm 1984 là 7.

Công thức tìm SỐ DƯ đối với NỮ (SDnu):

SDnu=(năm sinh – 4)/9 (chú ý: năm sinh chỉ lấy hai số sau)

Ví dụ: Nữ sinh năm 1984 ta tính SD như sau:

SDnu=(84-4)/9=80/9=8 dư 8, vậy SD của người Nữ sinh năm 1984 là 8.

Chú ý: Nếu công thức chia hết cho 9, không dư thì ta lấy số dư là 9.

Ví dụ: Nam sinh năm 1982, công thức tính sẽ là (100-82)/9=18/9=2 không dư, vậy ta lấy số dư của Nam sinh năm 1982 là 9.

Bước 2: tìm cung phi theo số dư

Số dư 1 là Khảm, 2 là Khôn, 3 là Chấn, 4 là Tốn, 5 là Khôn đối với Nam và Cấn đối với Nữ, 6 là Càn, 7 là Đoài, 8 là Cấn, 9 là Ly.

Mỗi số dư sẽ tương ứng với một cung phi trong Bát quái, đặc biệt nếu số dư là 5 thì sẽ thuộc Khôn đối với Nam và thuộc Cấn đối với Nữ. Ta có bảng đối chiếu như sau:

Timhuong.jpg

Bảng đối chiếu Số dư, Cung phi, Ngũ hành, và Đông, Tây tứ trạchDựa theo bảng trên, ta suy ra được người Nam sinh năm 1984 có số dư là 7, cung phi là ĐOÀI, thuộc Tây tứ trạch. Nữ sinh năm 1984 có số dư là 8, cung phi là CẤN, thuộc Tây tứ trạch. Nam sinh năm 1982, có số dư là 9, cung phi là LY, thuộc Đông tứ trạch…

Bước 3: tìm hướng tốt xấu theo cung

Sau khi đã tìm ra cung phi, đối chiếu để tìm ra Đông tứ trạch hay Tây tứ trạch. Nếu bạn thuộc Đông tứ trạch thì các hướng tốt là Đông, Nam, Bắc và Đông Nam, các hướng còn lại là xấu. Nếu thuộc Tây tứ trạch thì các hướng tốt là Tây, Tây Bắc, Tây Nam và Đông Bắc, các hướng còn lại là xấu. Chẳng hạn, Nam hoặc Nữ sinh năm 1984 đều thuộc Tây tứ trạch, vậy hướng tốt sẽ là Tây, Tây Bắc, Tây Nam và Đông Bắc. Nam sinh năm 1982 thuộc Đông tứ trạch, vậy hướng tốt là Đông, Nam, Bắc và Đông Nam.

Để tìm hướng tốt xấu chi tiết, bạn có thể tham khảo bảng đối chiếu sau:

Bảng đối chiếu chi tiết Cát tinh, Hung tinh dựa theo Đông, Tây tứ trạch

chieutinh.jpg

XEM HƯỚNG NHÀ VÀ HƯỚNG BẾP THEO BÁT TRẠCH

Hướng nhà là hướng của đường thẳng từ lưng nhà qua tâm nhà.

1. DÙNG LA BÀN ĐẶT ĐO HƯỚNG NHÀ

2. CHỌN CUNG PHI ( CÀN, KHÔN,….) THEO TUỔI

cung-phi-new-2

CÀN

KHÔN

CẤN

TỐN   

CHẤN                                                                         

LY

KHẢM                                                                              
ĐOÁI

KIẾT TINH: HƯỚNG BẾP , HƯỚNG CỬA , HƯỚNG BÀN THỜ , HƯỚNG ĐẦU GIƯỚNG…
SANH KHÍ:  thuộc THAM lang tinh, Dương Mộc, Thượng kiết.

Phàm cung mạng hiệp được phương Sanh Khí này lợi cho việc làm quan, làm ăn mau giàu, nhân khẩu tăng thêm, khách khứa tới đông, đến năm, tháng Hợi, Mẹo, Mùi thì được đại phát tài.

THIÊN Y: thuộc CỰ môn tinh, Dương Thổ, Thượng kiết.
Nếu vợ chồng hiệp mạng được cung Thiên y và tạo tác nhà cửa, đường ra vào được Phương này thì giàu có ngàn vàng, không tật bịnh, nhơn khẩu, ruộng vườn, súc vật được đại vượng, khoảng một năm có của. Đến năm, tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì phát tài.

DIÊN NIÊN (PHƯỚC ĐỨC): thuộc VÕ khúc tinh, Dương Kim, Thứ kiết.
Vợ chồng hiệp mạng được cung này, đường ra vào, phòng, nhà miệng lò bếp xoay vế phương Diên niên chủ về việc: trung phú, sống lâu, của cải, vợ chồng vui vẽ, nhơn khẩu, lục súc được đại vượng. Ứng vào năm, tháng Tỵ, Dậu, Sửu.

PHỤC VÌ (QUI HỒN): thuộc BỒ chúc tinh, Âm Thủy, Thứ kiết.
Phàm vợ chồng hiệp được cung Phục vì được Tiểu phú, Trung thọ, sanh con gái nhiều, con trai ít. Cửa lò bếp, trạch chủ nhà được phương Phục vì gặp năm có Thiên Ất Quy Nhơn đến Phục vì ắt sanh con quý, dễ nuôi (Muốn cầu con nên đặt lò bếp day miệng về hướng này).

 

HUNG TINH: HƯỚNG NHÀ XÍ , HẦM PHÂN , SÂN PHƠI , GIẶT
TUYỆT MẠNG: thuộc PHÁ quân tinh, Âm Kim, Đại hung.

Bổn mạng phạm cung Tuyệt mạng có thể bị tuyệt tự, tổn hại con cái, không sống lâu, bịnh tật, thối tài, ruộng vườn súc vật bị hao mòn, bị người mưu hại (người hà bị mưu hại: thương nhơn khẩu). Ứng vào năm, tháng Tỵ, Dậu, Sửu.

NGŨ QUỶ (GIAO CHIẾN):LIÊM trinh tinh, Âm Hỏa, Đại hung.
bị hỏa hoạn, bịnh tật, khẩu thiệt, hao mòn ruộng vườn, gia súc, thôi tài, tổn nhơn khẩu. Lâm nạn vào năm, tháng: Dần, Ngọ, Tuất.

LỤC SÁT (DU HỒN): thuộc VĂN khúc tinh, Dương Thủy, Thứ hung
Nếu phương hướng nhà cửa phạm nhằm thì bị: mất của, cãi vã, hao mòn gia súc vườn ruộng, thương tổn người nhà. Ứng vào năm, tháng: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

HỌA HẠI (TUYỆT THẾ): thuộc LỘC tồn tinh, Âm Thổ, Thứ hung.
Phương hướng nhà cửa, cưới gả vân vân … phạm vào thì bị quan phi, khẩu thiệt, bịnh tật, của cải suy sụp, thương nhơn khẩu. Ứng hại vào năm, tháng: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

CÁCH KHẮC CHẾ NHÀ CÓ HƯỚNG XẤU

Sanh khí giáng Ngũ quỷ

Thiên y chế Tuyệt mạng

Diên niên yểm Lục sát

Chế phục an bài đinh

Ví dụ nhà có phướng phạm vào ngũ quỷ, xoay hướng bếp sang hướng sanh khí sẽ trừ được tà khí…

Ý NGHĨA CÁC CUNG HƯỚNG CỬA

Vượng tâm Gia đạo an lạc
Tấn điền Phước lớn không dứt, tài vật, ruộng vườn nhà cửa súc tích.
Khốc khấp Người trong nhà chết non, phá hại tiền tài súc vật.
Cô quả Trong nhà có quả phụ, người đi xa xứ
Vinh phú Gia đình không có tai họa, phú quý vinh hiển
Thiếu vong Con trai chết non, con gái tự vận hoặc là con cái chơi bời, phá gia
Xương dầm Dâm dục, đắm say tửu sắc, vợ chuyên quyền
Thân hôn Gia đạo hiền lương, tiền bạc, châu báu lâu dài
Hoan lạc Tấn tài, lợi cho người nữ, điền sản, súc vật hưng vượng, phát phúc
Tuyệt bại Cha con mỗi người một xứ, phá hại gia tài, tai nạn với nước, lửa
Vượng tài Phú quý, phát đạt
Phước đức Sinh con quí tử, thăng quan tiến chức, sản nghiệp tấn tới
Ôn hoàng Bệnh dịch, nữ sinh nở khó toàn
Tấn tài Của cải gia tăng, làm gì cũng thành công
Trường bệnh Bệnh tật liên miên, tù tội lao khổ
Tố tụng Rước lấy tai ương, bị người phá hại gia đạo tranh giành, lòng không yên ổn
Quan tước Quyền cao chức trọng, nhà cửa vượng phát
Quan quý Gia chủ vang danh, tài vật nhiều, sinh con quý tử
Tự ái Tai họa chiến tranh, kiện tụng, con trai thì bỏ xứ, con gái tai nạn lúc sinh nở
Vượng trang Tiền bạc của quí đến nhà, nhân khẩu, điền sản gia tăng
Hưng phước Sống thọ, ít tai nạn, may mắn
Pháp trường Đại họa, chịu nhiều bi thương, lưu đày biệt xứ
Điên cuồng Sinh ly tử biệt, dâm loạn điên cuồng, chơi bời trác tác, gia đạo chia lìa
Khẩu thiệt Vợ chồng tranh nhau, anh em đấm đá, con cái bất hiếu

THƯỚC LỖ BAN

Thước Lỗ Ban ( có tiếng Việt) có thể mua dễ dàng tại các cửa hàng bán thiết bị phục vụ xây dựng.
Dùng thước đo các thiết bị quan trọng trong nhà như: bếp, cửa…, xem cung ghi trên thước, sau đó xem giải nghĩa.
Chú ý: Thước Lỗ Ban có thước trên và thước dưới. Hiện vẫn còn nhiều tranh luận quanh việc sử dụng thước trên hay thước dưới cho từng thiết bị khách nhau.
Để đảm bảo, nên chọn số đo ứng vào cung tốt cho cả thước trên và thước dưới.
Khi đo cửa, phải đo khoảng trống của cửa (lọt lòng) chứ không đo phủ bì.

THƯỚC TRÊN

Tài đức Tài đức vẹn toàn
Bảo khố Kho vàng, của cải sung túc
Lục hạp Hòa hợp gia đạo: cha mẹ, vợ chồng, con cháu
Nginh phúc Gặp nhiều hạnh phúc, may mắn
Thối tài Tiền bạc sút kém, của cải lỗ lã.
Công sự Tranh chấp, kiện tụng
Lao chấp Lao tâm khổ tứ, vất vả khó nhọc
Cô quả Đơn chiếc, cô đơn
Trường bệnh Bệnh tật liên miên
Kiếp tài Bị cướp bóc, cướp của
Quan quỉ Bị khắc chế, bó buộc
Thất thoát Mất mát tài sản
Thêm đinh Có thêm con trai
Ích lợi Gặp nhiều lợi ích, thuận lợi
Quí tử Con hiền ngoan, có tài đức
Đại cát Trăm sự đều hay, may mắn thuận lợi
Thuận khoa Thi cử đỗ đạt, thuận lợi
Hoạnh tài Được của cải bất ngờ, không nằm torng dự tính
Tấn đức Đạo đức tăng tiến, được nhiều người yêu mến, kính trọng
Phú quý Giàu có, danh vọng
Tử biệt Từ biệt, xa cách người thân
Thối khẩu Gia đạo ngày càng ít người, tử nhiều hơn sanh
Ly hương Xa rời quê hương
Thất tài Làm ăn thất bại, của cải tiêu tan
Tai chí Tai nạn liên miên không dứt
Tử tuyệt Rất xấu. Người chết, công việc thất bại, phá sản
Lâm bệnh Bệnh hiểm nghèo
Khẩu thiệt Điều tiếng thị phị. Khi có chuyện tranh chấp thường bị thiệt
Tài chí Tiền bạc đưa tới. Công việc làm ăn thuận lợi
Đăng khoa Thi cử đỗ đạt, công thành danh toại
Tấn bửu Của cải gia tang không ngừng
Hưng vượng Làm ăn phát triển, khuyếch trương

THƯỚC DƯỚI

Phúc tinh Gặp may mắn, khi có tại họa có người cứu giúp
Cấp đệ Thi cử trúng tuyển
Tài vượng Tài lộc tăng, kinh doanh thuận lợi
Đăng khoa Thi cử đỗ đạt, công thành danh toại
Khẩu thiệt Điều tiếng thị phị. Khi có chuyện tranh chấp thường bị thiệt
Lâm bệnh Bệnh hiểm nghèo
Tử tuyệt Rất xấu. Người chết, công việc thất bại, phá sản
Tai chí Tai nạn liên miên không dứt
Thiên đức Phước đức trời ban
Hỷ sự May mắn, trong nhà có hôn nhân
Tiến bảo Được nhiều của quý
Nạp phúc Phúc đức tăng
Thất thoát Mất mát tài sản
Quan quỉ Bị khắc chế, bó buộc
Kiếp tài Bị cướp bóc, cướp của
Vô tự Không người nối dõi
Đại cát Trăm sự đều hay, may mắn thuận lợi
Tài vượng Tài lộc tăng, kinh doanh buôn bán phát đạt
Ích lợi Gặp nhiều lợi ích, thuận lợi
Thiên khố Kho vàng trời cho, tiền bạc súc tích
Phú quý Giàu có, danh vọng
Tấn bửu Của cải gia tang không ngừng
Hoạnh tài Được của cải bất ngờ, không nằm trong dự tính
Thuận khoa Thi cử đỗ đạt, thuận lợi
Ly hương Xa rời quê hương
Tử biệt Từ biệt, xa cách người thân
Thồi đinh Con trai gặp nhiều bất lợi, đi xa hoặc tử biệt
Thất tài Mất của, kinh doanh sút kém
Đăng khoa Thi cử đỗ đạt, công thành danh toại
Quí tử Con hiền ngoan, có tài đức
Thêm đinh Có thêm con trai
Hưng vượng Làm ăn phát triển, khuyếch trương
Cô quả Đơn chiếc, cô đơn
Lao chấp Lao tâm khổ tứ, vất vả khó nhọc
Công sự Tranh chấp, kiện tụng
Thối tài Tiền bạc sút kém, của cải lỗ lã.
Nginh phúc Gặp nhiều hạnh phúc, may mắn
Lục hạp Hòa hợp gia đạo: cha mẹ, vợ chồng, con cháu
Tấn bửu Của cải gia tang không ngừng
Tài đức Tài đức vẹn toàn

Ý NGHĨA NGŨ HÀNH

Thuyết Âm Dương – Ngũ Hành xuất phát từ Kinh Dịch cổ.
Ngũ Hành khi tương tác lẫn nhauphải theo cơ chế Tương Sinh và Tương Khắc. Đây là tinh thần căn bản của thuyết Ngũ Hành.
Tương sinh: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim.
Tương khắc: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.
Phương vị: Tây – Kim; Đông – Mộc; Bắc – Thủy; Nam – Hỏa; Thổ – Trung tâm.
Màu sắc: Trắng – Kim; Đen – Thủy; Xanh lá – Mộc; Đỏ – Hỏa; Vàng – Thổ.

NGŨ HÀNH PHỐI VỚI THIÊN CAN

Dương Ngũ hành Âm
Giáp Mộc Ất
Bính Hỏa Đinh
Mậu Thổ Kỷ
Canh Kim Tân
Nhâm Thủy Quý

NGŨ HÀNH PHỐI VỚI ĐỊA CHI

Dương Ngũ hành Âm
Thủy Hợi
Thìn, Tuất Thổ Sửu, Mùi
Dần Mộc Mão
Ngọ Hỏa Tị
Thân Kim Dậu


Lỗ Ban nghiên cứu về cuộc sống con người trong vũ trụ, từ những mối quan hệ giữa con người với thế giới bên ngoài

Lỗ Ban đã đề ra những khoảng cách kích thước không gian biểu thị sự sinh tồn và suy thoái của cuộc sống con người.

Chương 2: CÁCH SỬ DỤNG THƯỚC LỖ BAN TRONG ĐO ĐẠC NHÀ CỬA

Ý NGHĨA

1 Lỗ Ban nghiên cứu về cuộc sống con người trong vũ trụ, từ những mối quan hệ giữa con người với thế giới bên ngoài Lỗ Ban đã đề ra những khoảng cách kích thước không gian biểu thị sự sinh tồn và suy thoái của cuộc sống con người.

Thước Lỗ Ban có chiều dài đơn vị gọi là “Thước” – ký hiệu là L. Trên mỗi thước (L) này được chia làm 8 cung, ở mỗi cung biểu thị sự định đoạt số mệnh của con người sống trong cái không gian cái không gian vũ trụ đó.

Ý nghĩa của thước Lỗ Ban trong thực tế là nếu có một ngôi nhà xây đúng hường, hợp tuổi của gia chủ, đúng ngày giờ và vào đúng năm tốt cũng chưa đủ tốt hẳn mà lại còn xấu hơn đi khi xây nhà, làm cửa phạm phải các kích thước có cung xấu trong thước Lỗ Ban. Một khi kích thước thông thuỷ của các cửa của căn phòng phạm phải cung xấu sẽ làm chìm đắm mọi cái tốt của sự hợp hướng, hợp thời, hợp ngày tháng. Khác với hướng nhà và sự hợp tuổi với thời gian có thể lựa chọn và điều chỉnh thì kích thước chỉ có thể lấy đúng cung số, nếu lấy phải cung số xấu sẽ gây tai hoạ cho gia chủ.

Thước Lỗ Ban có 3 loại khác nhau dùng để đo các kích thước thông thuỷ, các chi tiết của nhà và những đồ vật nội thất. Mỗi loại thước nói trên có cung bậc được xác định một cách nghiêm ngặt và nó đòi hỏi người sử dụng phải hết sức cẩn trọng trong việc ứng dụng từng loại thước vào thực tế, tuyệt đối không được dùng lẫn lộn thước đo thông thuỷ để đo chi tiết nhà hoặc dùng thước đo chi tiết nhà để đo đồ nội thất.

Xin lưu ý rằng: Với một sự bất cẩn nhỏ nào đó cũng có thể gây nên sự đổ vỡ của cả một cơ nghiệp mặc dù đó là sự vô tình. Chính vì vậy để sử dụng tốt thước Lỗ Ban cần phải nghiên cứu nó một cách nghiêm túc và đòi hỏi một sự áp dụng chính xác!

 

Qua thực tế thiết kế và thi công một số công trình, chúng tôi thường được chủ nhà yêu cầu đo đạc cửa nẻo theo thước Lỗ Ban, điều đó cho thấy họ vẫn rất tin tưởng vào cây thước cổ truyền này. Tuy không phải là những nhà địa lý nhưng do có tham bác qua một số thư tịch chúng tôi có thể hướng dẫn các bạn nhanh chóng sử dụng được cây thước này. Vấn đề còn lại ở đây là liệu đo đạc theo thước Lỗ Ban có phải là một hành động mê tín hay không. Có người cho đó là mê tín vì một lý do hết sức đơn giản, trên cây thước Lỗ Ban toàn những chữ Hán ngoằn ngèo giống bùa chú. Theo quan niệm cá nhân chúng tôi, thước Lỗ Ban là một cây thước kinh nghiệm, nó không thuộc bất kỳ một hệ thống đo đạc nào trên thế giới, nó được đúc kết và đã thử nghiệm cả ngàn đời nay chỉ để phân định hai chữ tốt xấu. Dĩ nhiên chỉ bằng một cây thước làm sao cải đổi được vận mạng, nhưng có lẽ qua chính sự sử dụng của các bạn mà nghiệm được rằng khi tai hoạ có đến cũng nhẹ đi một chút, lộc phúc có đến cũng may mắn hơn thêm.

1. THÂN THẾ LỖ BAN

Lỗ Ban, truyền thuyết họ Công Thâu tên gọi là Ban, người nước Lỗ đời Xuân Thu (hiện tại thuộc tỉnh Sơn Đông), cùng thời Mặc Tử (một triết gia nổi tiếng). Vì ông là người nước Lỗ, cho nên mọi người đều gọi ông là Lỗ Ban. Ông là một người thợ nổi tiếng thời cổ đại và cũng là một nhà phát minh xuất sắc. Từ ngàn năm nay, thợ mộc và thợ xây dựng Trung Quốc đều tôn thờ ông như một vị tổ sư.

2. THƯỚC LỖ BAN

Các nhà địa lý thường họ có cho riêng mình một cây thước Lỗ Ban (bằng gỗ) nhưng chúng ta chỉ sử dụng một lần cho ngôi nhà của mình nên không cần phải tự làm riêng chi cho tốn kém, chỉ cần đến các tiệm tạp hoá dọc đường Lê Lợi (Sài Gòn) là có thể mua được một cây thước kéo có kèm thước Lỗ Ban. Xin khẳng định trước để các bạn yên tâm là thước Lỗ Ban này hoàn toàn chính xác, sử dụng được.

Khi kéo cây thước này ra các bạn sẽ thấy có 2 hàng chữ Hán nằm trong các ô, một hàng chữ lớn và một hàng chữ nhỏ. Các bạn cứ lần theo hàng chữ lớn cho đến ô có số 1 nhỏ, đối chiếu ta được 42.9 cm hoặc gần 17 inches, đó chính là chiều dài của một cây thước Lỗ Ban. Như vậy suốt chiều dài cây thước kéo, loại 5 m chẳng hạn, chỉ là một sự lập đi lập lại hơn 11 cây thước Lỗ Ban. Điều đó là một thuận tiện vì nếu sử dụng thước Lỗ Ban gỗ tự làm (chỉ một đoạn 42.9 cm) như các nhà địa lý, khi đo một khoảng cách lớn phải dời thước tới lui gây ra sai số, có thể chệch đi tốt xấu trong gang tấc.

Một cây thước Lỗ Ban có 8 cung (hàng chữ lớn, nằm trong ô vuông), là biến thể của đồ hình Bát quái, thay vì sắp theo hình tròn người ta sắp lại theo hàng ngang. Trong 8 cung đó có 4 cung tốt (màu đỏ) và 4 cung xấu (màu đen), đi từ trái sang phải sắp xếp theo thứ tự sau

Tài – Bệnh – Li – Nghĩa – Quan – Kiếp – Hại – Bản

Trong mỗi cung đó lại chia thành 4 cung nhỏ mà chúng tôi sẽ giải thích cặn kẽ cho các bạn hiểu. Chú ý là chúng ta vẫn đang xem xét hàng chữ lớn.

° Cung thứ 1 (đỏ, tốt) – Tài: tiền của, chia thành:
– Tài Đức : có tiền của và có đức
– Bảo Khố : kho báu
– Lục Hợp : sáu cõi đều tốt (Đông-Tây-Nam-Bắc và Trời-Đất)
– Nghinh Phúc : đón nhận phúc đến

° Cung thứ 2 (đen, xấu) – Bệnh: bệnh tật, chia thành:
– Thoái Tài : hao tốn tiền của, làm ăn lỗ lã
– Công Sự : tranh chấp, thưa kiện ra chính quyền
– Lao Chấp : bị tù
– Cô Quả : chịu phận cô đơn

° Cung thứ 3 (đen, xấu) – Li: chia lìa, chia thành:
– Trường Khố: dây dưa nhiều chuyện
– Kiếp Tài: bị cướp của
– Quan Quỉ: chuyện xấu với chính quyền
– Thất Thoát: mất mát

° Cung thứ 4 (đỏ, tốt) – Nghĩa: chính nghĩa, tình nghĩa, chia thành:
– Thiêm Đinh : thêm con trai
– Ích Lợi: có lợi ích
– Quí Tử: con giỏi, ngoan
– Đại Cát: rất tốt

° Cung thứ 5 (đỏ, tốt) – Quan: quan chức, chia thành:
– Thuận Khoa: thi cử thuận lợi
– Hoạnh Tài: tiền của bất ngờ
– Tiến Ích: làm ăn phát đạt
– Phú Quý: giàu có

° Cung thứ 6 (đen, xấu) – Kiếp: tai hoạ, chia thành:
– Tử Biệt: chia lìa chết chóc
– Thoái Khẩu: mất người
– Ly Hương: xa cách quê nhà
– Tài Thất: mất tiền của

° Cung thứ 7 (đen, xấu) – Hại: thiệt hại, chia thành
– Tai Chí: tai hoạ đến
– Tử Tuyệt: chết mất
– Bệnh Lâm: mắc bệnh
– Khẩu Thiệt : mang hoạ vì lời nói
° Cung thứ 8 (đỏ, tốt) – Bản: vốn liếng, bổn mệnh, chia thành:
– Tài Chí: tiền của đến
– Đăng Khoa: thi đậu
– Tiến Bảo: được của quý
– Hưng Vượng:làm ăn thịnh vượng

Tiếp theo chúng tôi giải thích sơ lược phần thước có hàng chữ nhỏ, đây là thước Lỗ Ban kết hợp, nó có chiều dài 38.8 cm (các bạn sẽ thấy có số 1 nhỏ xuất hiện tại vị trí này), và cũng như phần trên nó cũng lập đi lập lại suốt chiều dài thước kéo. Thước này gồm 10 cung, 6 cung tốt (màu đỏ) và 4 cung xấu (màu đen). Đi từ trái sang phải, thứ tự như sau

° Cung 1 (đỏ, tốt) – Đinh: con trai, chia thành:
– Phúc Tinh: sao Phúc
– Cập Đệ: thi đỗ
– Tài Vượng: được nhiều tiền của
– Đăng Khoa: (từ đây trở đi, từ nào đã giải thích, các bạn xem lại ở trên)

° Cung 2 (đen, xấu) – Hại: chia thành:
– Khẩu Thiệt
– Bệnh Lâm
– Tử Tuyệt
– Tai Chí

° Cung 3 (đỏ, tốt) – Vượng: thịnh vượng, chia thành
– Thiên Đức: đức của trời ban
– Hỉ Sự: gặp chuyện vui
– Tiến Bảo
– Nạp Phúc: đón nhận phúc
° Cung 4 (đen, xấu) – Khổ: khổ đau, đắng cay, chia thành
– Thất Thoát
– Quan Quỉ
– Kiếp Tài
– Vô Tự : không con nối dõi

° Cung 5 (đỏ, tốt) – Nghĩa: chia thành:
– Đại Cát
– Tài Vượng: nhiều tiền của
– Ích Lợi
– Thiên Khố: kho trời

° Cung 6 (đỏ, tốt) – Quan: chia thành:
– Phú Quý
– Tiến Bảo
– Hoạnh Tài
– Thuận Khoa

° Cung 7 (đen, xấu) – Tử: chết chóc, chia thành:
– Ly Hương
– Tử Biệt
– Thoái Đinh : mất con trai
– Thất Tài : mất tiền của

° Cung 8 (đỏ, tốt) – Hưng: hưng thịnh, chia thành:
– Đăng Khoa
– Quí Tử
– Thiêm Đinh
– Hưng Vượng

° Cung 9 (đen, xấu) – Thất: mất mát, chia thành:
– Cô Quả
– Lao Chấp
– Công Sự
– Thoái Tài

° Cung 10 (đỏ, tốt) – Tài: chia thành:
– Nghinh Phúc
– Lục Hợp
– Tiến Bảo
– Tài Đức

3. CÁCH ĐO ĐẠC

Thước Lỗ Ban được sử dụng đo đạc trong xây dựng dương trạch (nhà cửa) và âm cơ (mộ phần). Ở đây chúng tôi chỉ bàn về xây dựng nhà cửa.

Trong nhà, cái quan trọng nhất là cửa nẻo, chỗ chúng ta hàng ngày vẫn đi qua lại. Sách Đạo Đức Kinh , chương 11, Lão Tử có nói: “Tạc hộ dũ dĩ vi thất, đương kỳ vô, hữu thất chi dụng” nghĩa là “Đục cửa và cửa sổ để làm nhà, chính nhờ cái trống không đó mà nhà mới dùng được”.

Khi đo cửa, các bạn nên nhớ chỉ đo khoảng thông thuỷ, nghĩa là tính từ mép trong của cửa, điều này rất quan trọng, vì nhiều khi các bạn chừa lỗ cửa đúng kích thước Lỗ Ban nhưng khi lắp cửa vào do có thêm các gờ đố cửa mà làm sai chệch cung tốt – xấu. Cách thức đo là các bạn kéo thước từ mép cửa này sang mép cửa kia, nếu rơi vào cung đỏ là ta được kích thước tốt, rơi vào cung đen là kích thước xấu, đo cả chiều rộng lẫn chiều cao cửa. Nhưng có một điều các bạn đặc biệt lưu ý, do thước Lỗ Ban của chúng ta sử dụng có thêm phần thước kết hợp, tức là phần thước hàng chữ nhỏ, nên có khi cửa đã lọt vào cung tốt ở hàng trên, hàng dưới lại là cung xấu và ngược lại. Đó chính là luật bù trừ trong vũ trụ, ta được ở mặt này lại mất ở mặt khác, không thể có cái gọi là hoàn hảo trên đời này. Như vậy, để được một kích thước tốt, cần phải trên đỏ, dưới đỏ. Ví dụ, cửa phòng bạn có kích thước 85 cm, nghĩa là lọt vào cung Hưng Vượng , màu đỏ – tốt nhưng đối chiếu hàng bên dưới lại lọt vào cung Tai Chí , màu đen – xấu. Để khắc phục các bạn có thể nới rộng cửa ra từ 86 đến 89 cm chẳng hạn. Cách sửa chữa khi cửa lọt vào cung xấu là các bạn có thể bào bớt cửa, đóng thêm nẹp, hoặc cùng lắm là làm lại khuôn cửa và cánh cửa mới cho đúng kích thước. Ngoài cửa nẻo ra thì giường nằm và bàn làm việc cũng nên theo kích thước Lỗ Ban, cách thức đo tương tự.

2

Thước lỗ ban tiếng Việt hiện phổ biến hiện nay. Hàng trên cùng là đơn vị Inch, dưới cùng là đơn vị mét. Các khoảng trên là ghi theo thước trực 8 dài 42,8cm, các khoảng dưới ghi theo thước trực dài 38,8cm

Sự ảnh hưởng văn minh phương tây đã làm “biến mất” nhiều hệ thước đo truyền thống của đa số các nước, trong đó có Việt Nam. Mọi kích thước về kỹ thuật, mỹ thuật hiện nay đều dùng hệ đo mét (nguồn gốc: Pháp), và có một vài sản phẩm dùng hệ đo inch (nguồn gốc: Anh, 1 inch = 2,54 cm). Hệ thống thước đo được sử dụng trong thời Nguyễn (1802 – 1945), thời kỳ chế độ quân chủ cuối cùng tại Việt Nam, cũng là hệ thước đo còn lưu truyền phần nào hiện nay. Để đo đất – làm nhà – dựng cửa, thời Nguyễn phổ biến hệ thước đo ruộng đất (điền xích) và hệ thước mộc (mộc xích). Loại thước lỗ ban mà hiện nay ta biết là thuộc hệ thước mộc, vốn được dùng chủ yếu trong các công trình kiến trúc truyền thống.

Hiện nay tồn tại hai nhóm thước chính, đó là thước kỹ thuật và thước tín ngưỡng (hay còn gọi là thước lỗ ban). Theo các nghiên cứu của tác giả Phan Thanh Hải công bố trên tạp chí Kiến Trúc số 3/2003 (hội Kiến trúc sư Việt Nam) thì thước lỗ ban khá phức tạp bởi có rất nhiều loại với quan niệm và cách sử dụng khác nhau. Lỗ Ban là tên một người thợ mộc Trung Hoa cổ đại, tương truyền đã phát minh ra cưa, đục và các dụng cụ nghề mộc trong đó có cây thước đo (còn có tên gọi môn xích, dùng để đo cửa). Thước dài 46cm, bề mặt chia làm 8 trực, giữa các trực khắc các chữ tài – đại – tinh, bệnh – thổ – tinh, ly – thuỷ – tinh, nghĩa – thuỷ – tinh, quan – kim – tinh, chấp – hoả – tinh, hại – hoả – tinh, cát – kim – tinh, đồng thời kèm theo các câu về điều tốt xấu (cát, hung). Trong thời cổ, ở Trung Quốc và các nước ảnh hưởng văn hoá Hán đều sử dụng thước lỗ ban với nhiều biến dạng. Hiện nay có hai loại thước lỗ ban chính, sử dụng ở cả Việt Nam lẫn Trung Quốc, Đài Loan, Hong Kong, đó là thước trực 8 (bát môn xích) và thước trực 10 (thập môn xích) với giá trị khác nhau. Và cả hai loại thước này hiện đều cùng in trên cây thước sắt cuốn bán phổ biến trên thị trường, có thước in chữ Hoa, có thước đã được dịch in luôn chữ Việt (phiên âm) cho dễ đọc! Cụ thể nội dung hai loại thước này như sau:

3

Nguyên tắc lọt lòng khi đo chiều rộng và chiều cao của cửa

1. Loại thước trực 8 dài 42,8cm (sau đó là lặp lại), 8 trực là: tài – bệnh – ly – nghĩa – quan – chấp (hoặc nạn) – hại – bản (hoặc mạng); mỗi trực lại chia thành bốn phần chia làm hai khoảng (tên trực nằm giữa), mỗi khoảng ghi các chữ, ví dụ như trong khoảng quan có ghi: thuận lợi, hoành tài, tấn ích, phú quý.

2. Loại thước trực 10 dài 38,8cm; 10 trực là: đinh – hại – vượng – khổ – nghĩa – quan – tử – hưng – thất – tài. Mỗi trực cũng lại chia thành các khoảng ghi các chữ, ví dụ như khoảng đinh ghi: phúc tinh, cập đệ – tài vượng, đăng khoa.

Các trực tốt như tài, nghĩa, quan… được in màu đỏ, xấu như bệnh, tử, hại… thì in màu đen, cho nên nhiều người sử dụng thước theo cách dễ hiểu: thấy kéo thước vô cung đỏ là tốt! Thực tế vẫn còn nhiều biến thể của “thước lỗ ban”, có cái dài 43,9cm, có cái dài đến 56cm (thước Chu Nguyên xích tại bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế). Do vậy có thể tạm kết luận: các loại thước này mang tính tín ngưỡng dân gian là chính, được lưu truyền sử dụng theo kiểu “có thờ có thiêng – có kiêng có lành”. Vấn đề là gia chủ và nhà chuyên môn cần xác định rõ việc đo đạc trong xây dựng một cách khoa học, đảm bảo kỹ thuật – mỹ thuật và có sự gia giảm linh hoạt, không để cho những áp đặt vu vơ làm sai lệch chất lượng của công trình.

Sử dụng thước thế nào?

Nhiều gia chủ hiện nay hay mua cây thước kéo có in các vạch đen đỏ, gặp bất kỳ chỗ nào trong ngôi nhà cũng… kiểm tra, rồi đòi hỏi mọi thứ phải vào được cung tốt (màu đỏ), gây khó khăn cho nhà chuyên môn, ảnh hưởng đến kỹ thuật và mỹ thuật công trình. Vấn dề nằm ở chỗ cần áp dụng kích thước lỗ ban cho những khu vực, chi tiết nào trong nhà để đạt sự hợp lý và đảm bảo nguyên tắc phong thuỷ, không sa đà vào tiểu tiết mê tín.

Vị trí áp dụng

4

Có ba nguyên tắc làm cơ sở cho việc áp dụng kích thước phong thuỷ trong xây cất. Đó là quan điểm dương trạch khí, các cấp độ môn – táo – chủ, và nguyên tắc hình phễu.

a. Dương trạch khí: đảm bảo nạp khí và thoát khí, thông qua hệ thống cửa, tương quan cửa với toàn nhà. Như Lão Tử thuở trước từng nói: vo đất làm bình cốt để dùng phần rỗng bên trong. Hay quan điểm kiến trúc hiện đại: khoảng không giữa các bức tường quan trọng hơn là bản thân các bức tường! Tức là, con người sống trong môi trường thiên nhiên và nhân tạo, tìm kiếm kích thước hài hoà hợp lý phải căn cứ vào khoảng trống, ở phần rỗng chứ không phải là các phần đặc!

b. Môn – táo – chủ: ba cấp độ này cũng ưu tiên đi từ môn (kích thước hệ thống cửa) đến táo (kích thước bếp) và sau cùng là chủ (các kích thước liên quan đến chủ nhân) trong đó chủ yếu là môn (thước lỗ ban vốn được gọi là môn xích). Còn táo và chủ chỉ cần tương quan tỷ lệ và phù hợp nhân trắc là đủ. Ví dụ kích thước bệ bếp phải vừa tầm người sử dụng, dù có “kéo vào cung đỏ” mà cao quá hay thấp quá cũng đều hỏng.

c. Nguyên tắc hình phễu: để tàng phong tụ khí thì luôn cần hệ kích thước cửa đảm bảo nguyên tắc từ ngoài vào trong theo hình phễu thu dần vào. Cửa cổng phải rộng và cao hơn cửa chính, cửa chính cao rộng hơn cửa phòng, cửa phòng ngủ hơn cửa phòng vệ sinh. Nguyên tắc này đảm bảo cửa nơi đối ngoại đông người nên rộng hơn cửa phòng vốn chỉ dùng đối nội.

Riêng với hệ cửa sổ (song khẩu) thì tránh khấp khểnh thiên lệch so với cửa chính để đảm bảo tính cân bằng. Cửa đi dẫn truyền khí, thiên về vật chất, cửa sổ điều tiết khí và cảnh quan (trong nhìn ra – ngoài nhìn vào) thiên về tinh thần. Khi cửa đi đóng (ví dụ vào ban đêm) thì cửa sổ chính là nguồn điều tiết thông thoáng và tầm nhìn, do đó kích thước cửa sổ không bắt buộc phải theo thước lỗ ban mà quan trọng là tương quan cửa sổ đối với nhà hay phòng.

Đo thông thuỷ hay phủ bì?

Vì kích thước phong thuỷ áp dụng cho nội khí, tức là phải đo các khoảng lọt lòng thông thuỷ cho khí đi qua, tức là đo khoảng trống (phần tĩnh ổn định) chứ không phải đo cánh cửa (phần mở mang tính động). Cụ thể là đo phần lọt lòng nhỏ nhất của khuôn bao, nhiều thợ hay gọi là lọt lòng gió. Về chiều cao, cần tính và đo khoảng lọt lòng từ sàn hoàn thiện đến phần thấp nhất của khuôn bao bên trên.

Những khung cửa không có cánh cũng đo phần lọt lòng nhỏ nhất và cố định như đã nêu trên. Đối với loại cửa vòm, chiều cao đo tính đến phần đỉnh vòm. Đối với cửa có phần lật hoặc cố định bên trên, kích thước phong thuỷ chỉ tính với phần khung có cánh mở được bên dưới. Cách tính này đảm bảo các bộ cửa đi theo ý đồ thẩm mỹ và tương quan với ngôi nhà, miễn phần mở để đi lại theo kích thước phong thuỷ, những phần chung quanh chỉ đóng vai trò như cửa sổ, lấy sáng và thông thoáng.

4. SỰ ỨNG NGHIỆM CỦA CÁC CUNG

° Cung Tài: nghĩa là tiền của, ứng nghiệm tốt nhất với cổng lớn, nơi đón nhận của cải từ ngoài vào.

° Cung Bệnh: là đau bệnh, ứng đặc biệt vào nhà vệ sinh. Nơi này thường là góc hung (xấu) của nhà, cửa lọt vào chữ Bệnh sẽ thuận lợi cho bệnh tật sinh ra.

° Cung Ly: là chia lìa, rất kỵ cho cửa trong nhà. Cửa lọt vào chữ Ly, chồng thì làm ăn xa nhà, vợ gặp điều quyến rũ, con cái hoang đàng phá phách.

° Cung Nghĩa: rất tốt cho cổng lớn và cửa nhà bếp, cửa các phòng thông nhau thì không nên.

° Cung Quan: rất kỵ ở cổng lớn vì tránh chuyện kiện tụng ra chính quyền, nhưng lại tốt ở cửa phòng riêng vợ chồng vì sẽ sinh con quí tử.

° Cung Kiếp: là bị cướp, tượng trưng cho tai hoạ khách quan đến từ bên ngoài khiến hao tổn tiền của. Tránh ở cổng lớn, nhất là các cửa hàng, tiệm buôn càng nên lưu ý.

° Cung Hại: tượng trưng cho mầm xấu nhen nhúm từ bên trong, kỵ ở các cửa phòng trong nhà.

° Cung Bản: thích hợp cho cổng lớn.

Như vậy là chúng tôi đã trình bày cặn kẽ cây thước Lỗ Ban – một kinh nghiệm cổ truyền quí báu – hòng giúp các bạn tự mình có thể đo đạc tìm ra một kích thước tốt nhất cho cửa nẻo ngôi nhà. Trong cuộc sống, hoạ phúc khôn lường, như câu chuyện “Tái ông thất mã” thì rõ ràng hoạ là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ nấp của hoạ. Dẫu biết vậy nhưng đã là con người ai không mong gặp chuyện phúc lành – may mắn tránh bớt điều tai ương – rủi ro, sử dụng thước Lỗ Ban cũng là vì lý do đó. Các bạn nên nhớ rõ cho rằng một cây thước không thể quyết định được vấn đề hoạ phúc, nó chỉ tạo cho mình một sự vững tâm khi ra ngoài tiếp xúc với xã hội, chính sự vững tâm đó mới mang lại những cơ hội tốt lành cho bản thân.

Cuối cùng chúng tôi mong rằng các bạn sử dụng và yêu mến cây thước Lỗ Ban như một kinh nghiệm của ngày xưa, các bạn đừng quá tôn thờ đặt hết niềm tin vào nó để rồi biến nó thành một trò mê tín dị dđoan. Chúng tôi xin được mượn lời của Khổng Tử làm lời kết cho bài viết này, “Công hồ dị đoan, tư hại dã dĩ” nghĩa là “Chuyên chú vào những điều dị đoan, chắc chắn có hại”.


Từ xưa đến nay trên thị trường xây dựng, chúng ta thường thấy thước Lỗ-Ban xuất hiện bày bán rất nhiều, trên hình thức thước cuộn từ 3 mét trở lên, trước tiên là thước Lỗ-Ban do T.Q sản xuất, chia chiều dọc làm hai phần, phần trên là thước tấc để đo, phần dưới là thước Lỗ-Ban.

    Tất nhiên là ngôn ngữ trên thước cũng toàn là tiếng T.Q, mấy bác thợ nề, thợ mộc cứ thế mà mày mò “khoản đen thì bỏ, khoản đỏ thì dùng”, chứ không hiểu trong thước nói gì ?…Và cách sử dụng cho chính xác ra sao ?…

Sau này các nhà sản xuất trong nước chúng ta nắm được thị hiếu người tiêu dùng, nên đã phiên dịch ra tiếng Việt và thước được bán rất chạy.Sự việc chưa dừng lại ở đó, có nhà sản xuất thước cuộn chia chiều dọc của thước làm ba phần, phần trên là thước tấc để đo, phần giửa ghi rỏ sự tốt xấu …,phần dưới cùng cũng ghi rỏ sự tốt xấu…

Làm người sử dụng không biết đâu mà phân biệt loại thước nào để mà sử dụng, đành phải mày mò theo kiểu hai thước cùng song hành, thôi đành chấp nhận gạn lọc “hai đen cùng trùng thì bỏ, hai đỏ cùng trùng thì dùng”!(Phần đen là cung xấu, phần đỏ là cung tốt).

Thực chất hai thước cùng song hành đó, phần trên là thước “Khổng Tử”, phấn dưới là thước “Lỗ-Ban”, hoặc phần trên là thước “Lỗ-Ban”, phần dưới là thước “Khổng-Tử” tùy vào nhà sản xuất, để mọi người tuỳ thích chọn lựa mà sử dụng.

Nhưng khi bán thước không có kèm theo hướng dẫn sử dụng, nên người dùng không biết tin vào phần thước nào cho phải, thôi đành chọn hai thước cùng trùng “chổ tốt” cho nó chắc, và cứ gọi nó là thước “Lỗ-Ban” cũng chẳng sao ?!…

Nhưng trong thực tế xây dựng, chúng ta tận dụng đến từng cm khi cần  thiết, thế mà trong thước khi tìm được hai khoản đỏ trùng nhau gọi là được “cung tốt” thì lại hơi bị quá xa…thật là khổ cho người ham mê phong thủy, để cầu mong điều tốt lành !
Trong phong thủy từ xưa đến nay, người ta sử dụng nhiều loại thước “Địa lý” để sử dụng trong việc xây dựng và nhiều việc khác, trong đó có thước LỖ-BAN là được mọi người yêu chuộng nhất, vì tác dụng của nó qua hàng ngàn năm được người ta chiêm nghiệm là đúng thật với những gì trong thước đã nói.

Cũng vì được mọi người yêu chuộng sự màu nhiệm của thước Lỗ-Ban, nên thước Lỗ-Ban sử dụng trong nhân gian đã biến dạng đũ loại kích cở khác nhau, người sử dụng không biết đâu là thật, đâu là giả, để mà chọn lựa khi cần dùng, đôi khi đã lở dùng rồi, rủi khi gặp họa do kích thước gây ra, cũng chẳng ai nghĩ là do cái thước “Lỗ-Ban biến dạng” kia gây ra….

Cũng vì vậy đa số các bạn ham mê và yêu chuộng thước Lỗ-Ban, đã thắc mắc và nhiều lần hỏi Admin về “Bản gốc của thước Lỗ-Ban” sự thật là như thế nào? để chia sẻ cùng với mọi người, để mọi người cùng tin dùng cho nó chắc, để khỏi phập phồng lo âu khi sử dụng “dị bản của thước Lỗ-Ban” hiện tràn lan trôi nổi trên thị trường.

Cũng chẳng có gì to lớn khi đáp ứng đa số các bạn đã ham mê yêu chuộng thước Lỗ-Ban. Nên nhân đây Admin cũng trao tặng đến các bạn có nhân duyên xem Blog này nguyên “Bản gốc thước Lỗ-Ban” mà  Admin đã có nhân duyên được Sư phụ truyền lại cách đây trên 30 năm.

Và đã trên 30 năm nghiên cứu và thực hành phong thủy, trong đó có thước Lỗ-Ban, thì thật sự thước Lỗ-Ban đã mang lại những điều may mắn cho người sử dụng khi làm mới hoặc sau khi chỉnh sửa.

Và khi đem thước Lỗ-ban đến đo các cửa của những ngôi nhà củ, thì đến cung tốt hoặc cung xấu, thì các gia chủ đều công nhận là đúng với những gì đã xảy ra cho gia chủ.

Qua kiễm chứng việc sử dụng thước Lỗ-Ban trên 30 năm, Admin chỉ tin vào một thước Lỗ-Ban này thôi, mặc dầu hiện nay trong nhân gian có nhiếu kích cở thước Lỗ-Ban…

Trước thực tế sự màu nhiệm của thước Lỗ-Ban đã qua kinh nghiệm sử dụng, nhân đây Admin cũng xin thành tâm với cả tấm lòng tri ân sâu sắc, kính dâng lên hương hồn Sư phụ cùng các Đai sư phong thủy ở Hồng-Kông và T.Q đã trao tặng cho Sư phụ “Bản gốc thước Lỗ-Ban”, khi Sư phụ đến hai nơi này để giao lưu học hỏi về phong thủy, và đã được Sư phụ truyền lại cho Admin.

Và bây giờ Admin trao tặng “Bản gốc thước Lỗ-Ban” đến các bạn có nhân duyên đọc được Blog này, nếu các bạn tin…
Sau đây là nguyên văn “Bản gốc thước Lỗ-Ban”:

1-     Cung QUÝ NHÂN: NHẤT TÀI MỘC CUỘC. (TỐT).Tham lam tấn hoạnh tài.Ưng ý tự nhiên tai.Tác vật hà hội thứ.Phân minh kỳ bất sai.

Cung QUÝ NHÂN còn có tên NHẤT TÀI MỘC CUỘC.Gồm có năm cung nhỏ là:   Quyền lộc- Trung tín- Xác quan- Phát đạt- Thông minh.

Có nghĩa cửa mà đo được cung QUÝ NHÂN thì gia cảnh sẽ được khả quan, có người giúp đỡ, quyền thế, lộc thực tăng, làm ăn luôn phát đạt, người ăn ở bạn bè trung thành, con cái thông minh trên đường học vấn. Nhưng chớ quá tham lam, làm điều bất chánh thì sẽ bị mất hết.

 2-     Cung HIỂM HỌA: NHỊ BÌNH THỔ CUỘC. (XẤU).Cự môn hiếu phục thường.Du ký tẩu tha phương.Nhất thân ly tật bệnh.Dâm loạn nam nử ương.

Cung HIỂM HỌA còn có tên NHỊ BÌNH THỔ CUỘC.Gồm có năm cung nhỏ là:   Tán thành- Thời nhơn- Thất hiếu- Tai họa- Trường bịnh.

Có nghĩa cửa mà đo được cung HIỂM HỌA thì gia cảnh sẽ bị tán tài lộc, trôi giạt tha phương mà sống vẫn thiếu hụt, con cháu dâm ô hư thân mất nết.

3-     Cung THIÊN TAI: TAM LY THỔ CUỘC. (XẤU).Lộc tồn nhân đa lãm.Ly biệt hưu bất tường.Phu thê xung khắc mãnh.Nam nử đại gia ương.

Cung THIÊN TAI còn có tên TAM LY THỔ CUỘC.Gồm có năm cung nhỏ là:   Hoàn tữ- Quan tài- Thân bệnh- Thối tài- Cô quả.

Có nghĩa cửa mà đo được cung THIÊN TAI thì gia cảnh coi chừng đau ốm nặng, chết chóc, mất của, cô độc, vợ chồng cắng đắng, con cái gặp nạn.

4-     Cung THIÊN TÀI: TỨ NGHĨA THỦY CUỘC. (TỐT).Văn khúc chử vạn chương.Đời đời cận quân vương.Tài lộc tái gia phú.Chấp thằng lục lý xương.

Cung THIÊN TÀI còn có tên TỨ NGHĨA THỦY CUỘC.Gồm có năm cung nhỏ là:   Thi thơ- Văn học- Thanh quý- Tác lộc- Thiên lộc.

Có nghĩa cửa mà đo được cung THIÊN TÀI thì gia cảnh rất tốt, chủ nhà luôn luôn may mắn về tước lộc, con cái được nhờ và hiếu thão. Cuộc sống luôn luôn được ăn ngon mặc đẹp, tiền bạc vô đều.

5-     Cung NHƠN LỘC: NGŨ QUAN KIM CUỘC. (TỐT).Vũ khúc xuân lộc tinh.Phú quý tự an ninh.Tấn bửu an điền trạch.Thông minh trí tuệ sinh.

Cung NHƠN LỘC còn có tên NGŨ QUAN KIM CUỘC.Gồm có năm cung nhỏ là:   Tử tôn- Phú quý- Tấn bửu- Thập thiện- Văn chương.

Có nghĩa cửa mà đo được cung NHƠN LỘC thì gia cảnh có nghề nghiệp luôn luôn phát triển tinh vi đắc lợi, con cái học giõi,gia đạo phú quý,tuổi thọ.

6-     Cung CÔ ĐỘC: LỤC CƯỚC HỎA CUỘC. (XẤU).Liêm trinh tửu sắc thanh.Lộ vong nhân đánh tranh.Quân sư lâm ly tán.Đao kiếp mãnh tri hoành.

Cung CÔ ĐỘC còn có tên LỤC CƯỚC HỎA CUỘC. Gồm có năm cung nhỏ là:   Bạo nghịch- Vô vong- Ly tán- Tửu thực- Dâm dục.

Có nghĩa cửa mà đo được cung CÔ ĐỘC thì gia cảnh bị hao người, hao của, biệt ly, con cái ngổ nghịch, trác táng, tửu sắc vô độ đến chết.

7-    Cung THIÊN TẶC: THẤT TAI HỎA CUỘC. (XẤU). Phá quân chủ tung hoành.Thập ác tri nghịch hành.Phá gia tài thối tán.Phiền tất bất an ninh.

Cung THIÊN TẶC còn có tên THẤT TAI HỎA CUỘC. Gồm có năm cung nhỏ là:   Phòng bịnh- Chiêu ôn- Ôn tai- Ngục tù- Quan tài.

Có nghĩa cửa mà đo được cung THIÊN TẶC thì gia cảnh nên đề phòng bịnh đưa đến bất ngờ, tai bay họa gởi, ngục tù, chết chóc.Phải sửa cửa ngay.

8-    Cung TỂ TƯỚNG: BÁC BỜI THỔ CUỘC. (TỐT). Phụ đồng tể tướng tinh.Kim ngân mẩn thất đinh.Ngũ âm tài đính xuất.Công hầu phú quý kinh.

Cung TỂ TƯỚNG còn có tên BÁC BỜI THỔ CUỘC. Gồm có năm cung nhỏ là:   Đại tài- Thi thơ- Hoạnh tài- Hiếu tử- Quý nhân.

Có nghĩa cửa mà đo được cung TỂ TƯỚNG thì gia cảnh được hanh thông đủ mọi mặt: Con cái, tiền tài, công danh, sanh con quý tử, thông minh, hiếu thảo. Chủ gia luôn được may mắn bất ngờ.

KÍCH CỞ CỦA THƯỚC LỖ-BAN: Chiều dài chính xác của thước Lổ-Ban này là 520 mm (= 0,52 m).-Được chia ra làm 8 cung LỚN : Theo thứ tự từ cung QUÝ NHÂN đến cung TỂ TƯỚNG như trên.Mỗi cung LỚN dài 65 mm.

-Mỗi cung LỚN: Được chia ra làm 5 cung NHỎ như trên.Mỗi cung NHỎ dài 13 mm.

CÁCH LÀM THƯỚC LỖ-BAN:

Các bạn có thể lấy một tấm bìa giấy màu trắng dày, cứng cáp, hoặc nhờ thợ mộc cắt, bào cho bạn cái thước dày 3 mm, rộng60 mm, dài 520 mm, tất nhiên khi cắt chiều dài phải cho thật chính xác: 520 mm.

-Sau đó các bạn có thể lấy bút bi để kẻ cái thước Lỗ-Ban và điền tên các cung LỚN, cung NHỎ vào từng ô theo mẩu dưới đây.Thế là các bạn đã có cái thước Lỗ-Ban để sử dụng khi cần.

TÁC DỤNG CỦA THƯỚC LỖ-BAN:

Thước Lỗ-Ban dùng để đo cửa chính của ngôi nhà, cửa phòng ngũ, cửa hậu, cổng ngỏ, đường luồng trong nhà, bàn làm việc, giường ngũ, khuôn viên bếp… -Chỉ đo LỌT LÒNG khoản trống bên trong , chứ không phải đo phủ bi.

-Ví dụ: Nếu cửa chính là cửa sắt để kéo, thì ta đo từ đáy dầm bê tông cửa xuống đến nền gạch men.Tiếp đến ta đo từ da tường này qua da tường kia.Có nghĩa là ta đo cả chiều cao và chiều rộng của cửa,chú ý là chỉ đo LỌT LÒNG khoản trống bên trong.

-Nếu là cửa có khung ngoại, thì ta đo chiều cao của cửa tờ đáy khung gió đến nền gạch men, tiếp đến ta đo chiều rộng của cửa từ da khung ngoại này qua da khung ngoại kia.Có nghĩa là ta chỉ đo LỌT LÒNG KHOẢN TRỐNG BÊN TRONG CỬA. Đặc biệt cửa có khung ngoại, phía trên có khung gió thì ta bỏ khung gió ra, không đo luôn khung gió, mà chỉ đo từ ĐÁY KHUNG GIÓ trở xuống mà thôi.

-Từ ví dụ trên các bạn suy ra cách đo các loại cửa khác, hoặc giường ngũ, khuôn viên bếp…Nếu là bàn làm việc thì ta đo cả chiều dài và chiều rộng của mặt bàn.

-Nếu LÀM MỚI thì ta chọn trước kích thước tốt để mà làm.-Nếu cửa củ ta đo thấy rơi vào các cung xấu, thì ta nghiên cứu cách sử lý cho đúng kích thước tốt, nhưng phải vén khéo sao cho đẹp là được.

CÁCH SỬ DỤNG THƯỚC LỖ-BAN:

-Nếu làm cửa mới: Ta lấy thước đo cửa chính từ TRÁI SANG PHẢI.(Có nghĩa là ta kê đầu thước có cung QUÝ NHƠN (Cung LỚN) vào sát da tường hoặc da khung ngoại của cửa ta định làm từ phía bên TRÁI và tiếp tục đo về phía bên PHẢI.

-Mỗi lần đo xong một thước, ta lấy bút chì làm dấu cuối thước (Nơi cuối cùng của cung TỂ TƯỚNG), và đem thước (Có đầu thước là cung QUÝ NHƠN) nối tiếp vào nơi dấu bút chì vừa rồi, và  đo tiếp lần hai, lần ba v.v… Đến cung tốt ta muốn chọn thì dừng lại.

-Sau đó ta tiếp tục đo đến chiều cao của cửa theo cách trên.

-Nếu là cửa cũ: Ta kiễm tra cửa củ đang sử dụng, thì ta đặt đầu thước có cung QUÝ NHƠN sát vào da tường hoặc da khung ngoại của cửa từ phía bên tay TRÁI của ta, lấy bút chì làm dấu cuối cây thước, và tiếp tục đem thước nối tiếp vào dấu bút chì vừa làm dấu, để đo lần hai, lần ba v.v…

Và đo tiếp cho đến khi đến da khung ngoại bên tay phải của ta, và nhìn vào thước, thì sẽ biết được chiều rộng của cửa ta đo LỌT LÒNG KHOẢN TRỐNG BÊN TRONG rơi vào cung TỐT hay XẤU…

-Sau đó ta tiếp tục đo đến chiều cao của cửa theo cách trên.-Các bạn căn cứ vào cách đo như trên, để suy ra và áp dụng vào nhiều việc khác…

-Kinh nghiệm lấy số đo nhanh và chính xác:

Ví dụ làm cửa mới:-Nếu ta dự kiến làm cửa mới có khung ngoại, đo LỌT LÒNG KHỎAN TRỐNG BÊN TRONG là 3,20 m.

-Mỗi lần đo một thước là 0,52 m (520 mm), ta tính cho 6 lần đo là 3,12 m (3.120 mm).Sau đó ta lấy thước dây cuộn loại 5 m, kéo dài ra và lấy bút chì làm dấu vào vị trí 3,12 m.Tiếp đến ta lấy cây thước Lổ-Ban, kê đầu thước có cung QUÝ NHƠN (Cung lớn) vào dấu bút chì ở vị trí 3,12 m, thì ta thấy phần thừa còn lại là 0,08 m (80 mm) so với 3,20 m ta dự kiến ban đầu.

-Ta nhìn vào thước Lỗ-Ban và thước dây cuộn, ta thấy vị trí 3,20 m rơi vào cung tốt hay cung xấu của thước Lỗ-Ban.Nếu vị trí 3,20 m rơi vào cung xấu của thước Lỗ-Ban, thì ta điều chỉnh lại chút ít, để rơi vào kích thước cung tốt (Cung tốt NHỎ) của thước Lỗ-Ban.

-Tất nhiên ta chọn vào giửa cung tốt (Cuả cung NHỎ: 1 trong 5 cung tốt của cung LỚN),chứ không phải ngay vạch cắt giửa cung nhỏ này với cung nhỏ kia, vì nó chẳng mang ý nghĩa gì cả.-Căn cứ vào cách đo nhanh và chính xác như trên mà áp dụng vào các việc khác…

-CHÚ Ý: Khi ta đo đến một cung tốt (Cung nhỏ) nào, thì ta sẽ hiểu ý nghĩa của cung tốt đó nói tốt về việc gì (1 trong 5 cung tốt), chứ không phải mang hết ý nghĩa tốt cho cả cung LỚN. Kể cả cung xấu cũng vậy. ta chỉ hiểu ý cung xấu nói gì của 1 trong 5 cung xấu đó, chứ không phải mang hết ý nghĩa cả 5 cung xấu trong 1 cung lớn.


Cách sử dụng thước Lỗ Ban

Đo kích thước rỗng (thông thuỷ)

Thước đo lỗ rỗng như kích thước thông thủy của các loại cửa, lỗ thoáng và không gian thông thuỷ các tầng nhà. Các kích thước này được tạo bởi sự giới hạn trong một không gian vật chất, chính vì thế nó cũng biểu thị sự ảnh hưởng của những kích thước không gian đó đối với con người thông qua sự thay đổi các kích thước này.

Thước đo lỗ rỗng (thông thuỷ) có chiều dài quy đổi ra hệ mét là L = 0,52 mét, như vậy mỗi cung cho kích thước là 0,065 mét. Thứ tự các cung đo từ trái sang phải là: Quý nhân – Hiểm hoạ – Thiên tai – Thiên tài – Phúc lộc – Cô độc – Thiên tặc – Tể tướng.

Ý nghĩa và cách tính các cung như sau:

Cung Quý nhân

Gặp cung này gia cảnh được khả quan, làm ăn phát đạt, bạn bè trung thành, con cái thông minh hiếu thảo.

Cách tính n x L + (0,015 đến 0,065)

Cung Hiểm hoạ

Gặp cung Hiểm hoạ gia chủ sẽ bị tán tài lộc, trôi dạt tha phương, cuộc sống túng thiếu, gia đạo có người đau ốm, con cái dâm ô, hư thân, mất nết, bất trung, bất hiếu.

Cách tính n x L + (0,07 đến 0,13)

Cung Thiên tai

Gặp cung này coi chứng ốm đau nặng, chết chóc, mất của, vợ chồng bất hoà, con cái gặp nạn.

Cách tính n x L + (0,135 đến 0,195)

Cung Thiên tài

Gặp cung Thiên tài chủ nhà luôn may mắn về tài lộc, năng tài đắc lợi, con cái được nhờ vả, hiếu thảo, gia đạo chí thọ, an vui.

Cách tính n x L + (0,2 đến 0,26)

Cung Phúc lộc

Tại cung Phúc lộc chủ nhà luôn gặp được sung túc, phúc lộc. Nghề nghiệp luôn phát triển, năng tài đắc lợi, con cái thông minh, hiếu học, gia đạo yên vui.

Cách tính n x L + (0,265 đến 0,825)

Cung Cô độc

Cung này gia chủ hao người, hao của, biệt ly, con cái ngỗ nghịch, tửu sắc vô độ đến chết.

Cách tính n x L + (0,     đến 0,     )

Cung Thiên tặc

Gặp cung Thiên tặc phải coi chừng bệnh đến bất ngờ, hay bị tai bay vạ gió, kiện tụng, tù ngục, chết chóc.

Cách tính n x L + (0,     đến 0,      )

Cung Tể tướng

Cung Tể tướng tạo cho gia chủ hanh thông mọi mặt, con cái, tiền tài, danh, sinh con quý tử, chủ nhà luôn may mắn bất ngờ.

Cách tính n x L + (0,46 đến 0,57)

Trong đó:

L = 0,52 mét

n = 0; 1; 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9; 10…

Có 4 cung tốt là: Quý nhân, Thiên tài, Phúc lộc và Tể tướng.

BẢNG KÍCH THƯỚC CHUẨN CHO CÁC CHI TIẾT THÔNG THUỶ CỦA NHÀ

Từ cách tính nêu trên cùng với thuyết âm dương, sinh tồn, Lỗ Ban đã chọn ra bảng kích thước chuẩn để làm cơ sở cho việc lựa chọn các kích thước nhà cửa của mỗi gia đình hoặc công trình xây dựng.

Quý nhân (m)

Thiêt tài (m)

Phúc lộc (m)

Tể tướng (m)

0,80

1,35

1,85

2,40

2,90

3,40

3,95

4,45

5,00

5,50

0,50

1,00

1,55

2,05

2,60

3,10

3,60

4,15

4,65

5,20

0,55

1,10

1,60

2,10

2,65

3,15

3,70

4,20

4,70

5,25

0,75

1,30

1,80

2,30

2,85

3,35

3,90

4,40

4,90

5,45

Đo kích thước đặc

Đo kích thước đặc có nghĩa là đo phủ bì các vật thể

là những chi tiết của công trình hoặc đồ vật trong nội thất của ngôi nhà.

Thước đo kích thước đặc có tám cung như sau:

TÀI – BỆNH – LY – NGHĨA – QUAN – KIẾP – HẠI – BẢN

Tài – có nghĩa là tài gồm:

  • Tài đức: Có tài và có đức.
  • Bảo khố: Có kho quý.
  • Lục hợp: Đạt được sáu điều ưng ý.
  • Nghênh phúc: Đón điều phúc.
Quan – có nghĩa là người chủ gồm:

  • Thuận khoa: Tiến đường công danh.
  • Hoành tài: Tiền nhiều.
  • Tiến ích: ích lợi tăng.
  • Phú quý: Giàu sang.
Bệnh – có nghĩa là bệnh gồm:

  • Thoát tài: Mất tiền.
  • Công sự: Bị đến cửa quan.
  • Lao chấp: Bị tù đày.
  • Cô quả: Đơn lẻ.
Kiếp – có nghĩa là tai nạn gồm:

  • Tử biệt: Chết chóc.
  • Thoái khẩu: Mất người.
  • Ly hương: Bỏ quê mà đi.
  • Tài thất: Mất tiền.
Ly – có nghĩa là xa cách gồm:

  • Trưởng khố: Cầm cố đồ đạc.
  • Kiếp tài: Của cải mắc hại.
  • Quan quỷ: Công việc kém.
  • Thất thoát: Bị mất mát.
Hại – có nghĩa là bị xấu gồm:

  • Tai chí: Tai nạn đến.
  • Tử tuyệt: Chết chóc.
  • Bệnh lâm: Mắc bệnh.
  • Khẩu thiệt: Cãi nhâu.
Nghĩa – có nghĩa là đạt được điều hay lẽ phải

  • Thêm đinh: Thêm người.
  • ích lợi: Có lợi, có ích.
  • Quý tử: Sinh con quý tử.
  • Đại cát: Nhiều điều hay.
Bản – có nghĩa là gốc gồm:

  • Tài chí: Tiền tài đến.
  • Đăng khoa: Đỗ đạt.
  • Tiến bảo: Được dâng của quý.
  • Hưng vượng: Làm ăn phát đạt.
Như vậy trong 8 cung nói trên chỉ có 4 cung là tốt gồm:

TÀI – NGHĨA – QUAN – BẢN

Khi chọn kích thước thì chỉ nên chọn theo 4 cung này.

Để đo kích thước có hai loại thước khác nhau:

  • Thước đo chi tiết nhà có chiều dài mỗi cung là 53,62mm.
  • Thước đo đồ nội thất có chiều dài mỗi cung là 48,75mm.

Sau đây là cách tính kích thước các cung:

Thước đo chi tiết nhà

Tài

Bệnh

Ly

Nghĩa

Quan

Kiếp

Hại

Bản

=

=

=

=

=

=

=

=

n x L + (0,010 đến 0,053)

n x L + (0,055 đến 0,107)

n x L + (0,110 đến 0,160)

n x L + (0,162 đến 0,214)

n x L + (0,216 đến 0,268)

n x L + (0,270 đến 0,321)

n x L + (0,323 đến 0,375)

n x L + (0,377 đến 0,429)

Trong đó:

n = 0; 1; 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9; 10…

L = 0,429 mét.

 

BẢNG KÍCH THƯỚC CHUẨN ĐỂ LÀM CÁC CHI TIẾT CỦA NHÀ

Tài (m)

Nghĩa (m)

Quan (m)

Bản (m)

0,90

1,30

1,75

2,20

2,60

3,05

3,45

3,90

4,30

4,75

 5,20

0,60

1,05

1,50

1,90

2,35

2,75

3,20

3,60

4,05

4,50

4,90

0,65

1,10

1,55

1,95

2,40

2,80

3,25

3,70

4,10

4,55

4,95

0,85

1,25

1,70

2,10

2,55

3,00

3,85

4,25

4,70

5,10

5,55

Thước đo đồ vật trong nội thất
 

Tài

Bệnh

Ly

Nghĩa

Quan

Kiếp

Hại

Bản

 

=

=

=

=

=

=

=

=

 

n x L + (0,010 đến 0,048)

n x L + (0,050 đến 0,097)

n x L + (0,100 đến 0,146)

n x L + (0,150 đến 0,195)

n x L + (0,200 đến 0,240)

n x L + (0,245 đến 0,290)

n x L + (0,295 đến 0,340)

n x L + (0,345 đến 0,390)

 

Trong đó:

n = 0; 1; 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9; 10…

L = 0,390 mét

BẢNG KÍCH THƯỚC CHUẨN ĐỂ LÀM ĐỒ NỘI THẤT

Tài (m)

Nghĩa (m)

Quan (m)

Bản (m)

0,42

0,82

1,20

1,60

1,98

2,35

2,75

3,15

0,55

0,95

1,35

1,75

2,10

2,50

2,90

3,30

0,60

1,00

1,40

1,80

2,15

2,55

2,95

3,35

0,75

1,15

1,55

1,95

2,30

2,70

3,10

3,50

Cách tính bậc thang

Số lượng bậc thang trong dãy số đếm được xác định trong giới hạn ở hai tấm sàn, theo nguyên tắc tính từ dưới lên trên.

Những bậc nghỉ lớn trong thực tế được sử dụng như một sàn nhà, nó không còn chức năng là một bậc chuyển tiếp nữa thì bậc đó coi như sàn.

Đồng thời có những bậc nghỉ lớn nhưng không có chức năng sử dụng làm sàn thì nó vẫn coi như là một bậc trong nhịp thang.

Khi xác định số bậc thang cần lưu ý đến bậc cuối cùng trong dãy số đếm giữa hai tấm sàn phải thuộc về một trong các cung tốt sau đây:

Tài – Nghĩa – Quan – Bản

Về ý nghĩa của các cung như đã nêu ở phần đầu, nếu kết quả không đặng cung tốt thì phải chia lại bậc thang để tránh mọi điềm xấu ám ảnh bên cuộc sống của gia chủ.

CÁCH ĐẾM BẬC THANG THEO THỨ TỰ TỪ DƯỚI LÊN TRÊN NHƯ SAU:

Sàn

(8)Bản

(7)Hại

(6) Kiếp

(5) Quan

(4) Nghĩa

(3)Ly

(2) Bệnh

(1)Tài

Sàn

Trên đây là một số kiến thức cơ bản giúp cho các bạn tạo dựng cơ nghiệp của mình được vững chắc và hưng vượng.

5

6

Lựa chọn kích thước cho từng loại cửa theo đúng phong thủy

Khi quyết định xây nhà, việc thiết kế đúng phong thủy sẽ khiến gia chủ thêm vượng. Đặc biệt phải chú ý đến việc lựa chọn kích thước các loại cửa chính, cửa cổng, cửa nhà vệ sinh… bài viết này sẽ giúp các bạn có thêm các kiến thức hữu dụng khi xây dựng nhà ở.

Khi quyết định xây nhà, việc thiết kế đúng phong thủy sẽ khiến gia chủ thêm vượng. Đặc biệt phải chú ý đến việc lựa chọn kích thước các loại cửa chính, cửa cổng, cửa nhà vệ sinh… bài viết này sẽ giúp các bạn có thêm các kiến thức hữu dụng khi xây dựng nhà ở.Những điều nên làm

Nên Làm:

– Các cửa từ ngoài vào trong nhỏ dần theo dạng loa kèn là phù hợp. Lưu ý kích thước cửa là điều quan trọng, một cửa ra vào phải tương đương vừa cỡ với căn nhà hay kích thước từng phòng.

– Một cái cửa nhỏ thì không đủ chỗ cho khí tốt đi vào. Một cái cửa lớn quá rộng ở trong nhà hay trong phòng khí tràn ngập vào phòng cho nên của cải và dịp may có vào bao nhiêu đi chăng nữa thì cũng không thể giữ được bền bỉ.Những điều kiêng kỵ

Kiêng Kỵ:

– Nếu nhà có sân, tâm cửa ngoài (cổng) và cửa chính không nối thành một đường thẳng là hung, nên bố trí lệch nhau, theo nguyên tắc “Hỷ hồi truyền nhi kỵ trực xung”, cửa sau không được lớn hơn cửa trước, cửa bếp không được thẳng với miệng lò, cửa nhà vệ sinh không mở thẳng vào bếp và phong thủy cho từng loại cửa. Trong các loại cửa thì cửa chính (cũng là hướng nhà) là quan trọng nhất.- Tránh cửa ngáng cửa.

– Để cho nhà cửa văn phòng có sự hòa điệu, một tình trạng khác cần tránh là một hành lang nhỏ có nhiều cửa ra vào, mỗi cửa là một cái “mồm” khác nhau với tiếng nói riêng của nó

– Một cửa ra vào cuối hành lang dài sẽ làm dòng khí di chuyển nhanh, điều này làm sức khỏe người nhà nguy hiểm hay làm cho cảm thấy bứt rứt không yên tác động vào thần kinh, dễ làm họ nổi giận, nó cũng có thể gây tử vong và cản trở dịp may và cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, làm ăn.

– Nên tránh đặt ba cửa ra vào và cửa sổ hay nhiều hơn nữa trong một loạt nối tiếp nhau, lý do là sắp cửa thẳng hàng có thể ảnh hưởng đến hoạt động trong gia đình. Cửa ra vào là miệng mồm của cha mẹ, cửa sổ là tiếng nói của các con.

– Nếu tỉ lệ cửa sổ nhiều hơn 3/1 thì gây tranh cãi vì quá nhiều ý kiến, con cái hay cãi lời cha mẹ. Nếu cửa sổ to rộng hơn cửa ra vào thì trẻ con có khuynh hướng coi thường chỉ bảo, kỷ luật của cha mẹ, Một cửa sổ rộng lớn với những ô nhỏ thì được.Kích thước chi tiết các loại cửaDưới đây là một số kích thước các loại cửa được dùng trong xây cất hoặc tu tạo nhà cửa, có tính tham khảo do một số nhà phong thủy cho từng loại cửa kinh nghiệm lâu năm cung cấp:

1. Cửa chính ở tầng trệt hay trên lầu:

+ Cao: 2,30 – 2,52 – 2,72 – 2,92 (mét)

+ Rộng: 1,46 – 1,62 – 1,90 – 2,32 – 2,46 – 2,92 – 3,12 – 3,32 – 3,72 – 4,12 – 4,56 – 4,80 (mét)

2. Cửa 1 cánh, cửa 2 cánh, cửa hậu hoặc cửa phụ:

+ Cao: 2,10 – 2,30 – 2,52 – 2,72 (mét)

+ Rộng: 0,81 – 1,07 – 1,25 – 1,46 – 1,90 – 2,12 (mét)

3. Cửa thông phòng: cửa này thường không có cánh, có thể phủ rèm thưa, treo màn

+ Cao: 1,90 – 2,10 – 2,12 (mét)

+ Rộng: 0,80 – 1,06 – 1,22 (mét)

4. Cửa phòng ngủ của gia chủ

+ Cao: 1,90 – 2,10 – 2,30 (mét)

+ Rộng: 0,82 – 1,04 – 1,24 (mét)

5. Cửa phòng ngủ con trong tuổi còn đi học

+ Cao: 1,90 – 2,10 – 2,30 (mét)

+ Rộng: 0,82 – 1,06 – 1,26 (mét)

6. Cửa phòng tắm và phòng vệ sinh

+ Cao: 1,90 – 2,10 – 2,30 (mét)

+ Rộng: 0,68 – 0,82 – 1,02 (mét)

7. Phòng con đã có việc làm và phòng khách vãng lai

+ Cao: 1,90 – 2,10 – 2,30 (mét)

+ Rộng: 0,85 – 1,05 – 1,2 (mét)

8. Cửa nhà xe và cửa nhà kho: Kích thước nên tính tương ứng với kích thước của chính tầng trệt nhưng nhỏ hơn một nấc trên thước Lỗ Ban.

9. Cửa sổ: Tùy nghi sử dụng, không theo kích thước địa lý, vì cửa sổ không phải là cửa xuất nhập, cửa đi ra vào. Thông thường tổng diện tích cửa sổ bằng 3 lần tổng diện tích cửa chính.

10. Cửa cổng ngõ: Khi nào có đà ngang xây trên 2 đầu trụ cổng thì mới theo kích thước địa lý. Còn cổng không có đà ngang thì không cần theo kích thước địa lý.Những điều nên làm khi lựa cửa nhà

Phong thủy đặt bể nước, bể phốt trong nhà ở

Tại các đô thị, do diện tích nhà hạn hẹp, không ít gia đình thường tận dụng phần móng ngầm của căn nhà để làm bể chứa nước hay bể phốt. Tuy nhiên, theo phong thủy, bể nước hoặc bể phốt (ao hồ, đầm phá) nếu bị xung sát sẽ gây hại tới sức khỏe cho người trong gia đình.

Phong thủy nhà ở cho rằng, nước phải thường xuyên chảy mới mang lại hanh thông sinh vượng, nhưng nếu chảy nhanh (xiết) quá thì lại tạo khí xấu. Nước chảy theo kiểu quanh co hiền hòa được cho là nước trường sinh; dòng nước chảy đi (tiêu thủy, tống thủy hoặc phóng thủy) thì phải thông thoáng và “mất hút” vào một khối thì mới tốt.

Ngoài ra, bể nước, bể phốt chính là nơi thủy tụ hội, cũng tương tự như ao đầm hay giếng làng, nước chủ về tài lộc, sức khỏe, phải luôn đầy đủ nhưng không được để tù đọng.

Nhiều gia đình hiện nay thường tận dụng phần móng ngầm của ngôi nhà để xây bể chứa nước, bể phốt để tiết kiệm diện tích và tận dụng không gian. Tuy nhiên, các chuyên gia phong thủy cho rằng, cần cân nhắc kỹ khi đặt bể nước kiểu này.

phong thủy đặt bể nước
Nếu bể nước được làm quá rộng, bao chiếm toàn bộ chiều rộng ngôi nhà, gây đứt trạch nhà thì rất bất lợi. Ảnh minh họa

Cụ thể, cần bố trí bể chứa nước, bể phốt tránh phạm phải những cấm kỵ sau đây:

– Không được đặt bể nước, bể phốt ở sơn chủ. Sơn chủ tức là phần “lưng” của ngôi nhà (tòa nhà hoặc khu nhà), đối xứng với sơn chủ chính là hướng nhà. Ví dụ, khi nói nhà có hướng Bắc – Nam tức “lưng” nhà ở hướng Bắc còn mặt tiền ở hướng Nam.

– Không được đặt bể nước, bể phốt tại cung đào hoa, nếu không sẽ phạm phải thế sát “đào hoa phiếm thủy”, có thể gây sóng gió cho gia đình hoặc tệ nạn xã hội.

Cụ thểm đối với mọi sơn hướng của ngôi nhà đều không được đặt bể nước, bể phốt tại cung Đoài (chính Tây). Nếu phạm trong nhà thường có người sinh nghiện ngập, rượu chè cờ bạc hoặc là trai gái giang hồ… Đối với từng căn hộ, gia đình riêng, cần xác định được cung đào hoa nhằm tránh gặp nhầm lẫn khi đặt bể nước, bể phốt.

– Không được đặt bể nước, bể phốt tại cung Ngọ vì sẽ phạm vào thế thủy hỏa tương khắc, có thể gây các bệnh về tai, mắt, tiền đình.

– Không được đặt bể nước, bể phốt tại cung Khôn (Tây Nam) và cung Cấn (Đông Bắc) vì sẽ phảm vào thế Thủy Thổ tương khắc. Thế này có thể khiến người trong nhà mắc các bệnh về tì vị, thận, đường tiêu hóa… Những người phải chịu tổn hại nhiều nhất thường là mẹ già, phụ nữ lớn tuổi hoặc người con trai thứ trong gia đình.

Những vị trí nên đặt bể nước, bể phốt:

Nên đặt bể nước, bể phốt trên các thiên can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm và Quý. Vì theo phong thủy “vạn thủy vô tòng thiên thượng khứ” (tức là mọi dòng nước đều đi theo thiên can). Sở dĩ hai thiên can Mậu và Kỷ không nên đặt bể nước, bể phốt là vì có ngũ hành thuộc Thổ, nếu đặt tại đây sẽ phạm “Thổ khắc Thủy”.

Nếu bể nước đặt ở giữa phòng khách gia chủ cần xem xét vị trí phòng khách trong tổng thể ngôi nhà hoặc tòa nhà để từ đó định rõ tốt xấu. Cụ thể, khi chia chiều dài ngôi nhà ra làm 3 phần, nếu phòng khách nằm hẳn ở phần trước hoặc phần sau nhà thì việc đặt bể nước ngầm ở giữa phòng khách chưa hẳn đã xấu về phong thủy. Và nếu bể nước lại nằm trọn ở cung xấu so với tuổi của gia chủ thì gia chủ có thể hoàn toàn yên tâm.

Tuy nhiên, trường hợp phòng khách lại nằm chính giữa ngôi nhà, nghĩa là bể nước nằm ở vị trí trung cung của ngôi nhà thì rất đáng quan ngại. Theo phong thủy, khu vực trung cung vốn thuộc hành Thổ nên sẽ xung khắc với hành Thủy của bể nước, gây ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ của chủ nhà. Ngoài ra, nếu chủ nhà bố trí bể nước rộng bao chiếm toàn bộ chiều rộng nền nhà, làm đứt trạch nhà thì lại càng bất lợi. Nếu nhà bạn gặp phải tình trạng này, hoặc đã trót bố trí như vậy thì cách tốt nhất là nên di chuyển bể nước sang một vị trí khác.

Chương III : Phong thủy huyền không phi tinh 

1.Khái Niệm Huyền Không

Giải thích về 2 chữ Huyền Không, Thẩm trúc Nhưng (tác giả bộ “Thẩm thị Huyền Không học”) viết: Trong sách Pháp Ngôn của Dương Hùng viết “Huyền giả nhất dã” (tức Huyền là một), lời giải thích này khá rõ ràng. Nhưng đến chữ Không thì rất khó giải thích. Bởi vì “KHÔNG” không có nghĩa là trống không hoàn toàn, mà trong cái “KHÔNG” lại bao hàm cái “CÓ”. Các học giả Thiên Trúc (Ấn độ) xưa luận giải như sau:
Sắc bất dị không
Không bất dị sắc
Sắc tức thị không
Không tức thị sắc
Thụ tưởng hành thức
Diêc phục như thị
(Nghĩa là: Vật không khác gì “không”, “Không” không khác gì vật. Vật tức là “không”, “không” tức là vật. Những điều con người cảm thụ và suy nghĩ được cũng vậy).

Như vậy “KHÔNG” bao hàm cả “khiếu” (tức mấu chốt của sự vật). “Khiếu” có 9 cái nên gọi là “Cửu khiếu”, cũng là nói hai chữ “Huyền Không” bao hàm từ 1 tới 9. Nhưng đây không phải đơn thuần là số đếm, mà còn là mấu chốt để định vị không gian và thời gian chứa đựng sự vật. Vì vậy mới dùng hai chữ Huyền Không để làm đại biểu.

Nói một cách khác, Huyền Không là dùng các con số từ 1 tới 9 để biểu thị, quan sát mọi sự thay đổi, biến hóa của sự vật. Như chúng ta đã biết, mọi vật thể, cũng như vũ trụ đều được cấu trúc bằng những hạt nhân nguyên tử hay những hành tinh di chuyển theo một quỹ đạo hình tròn. Còn 9 con số của Huyền Không khi biểu thị sự biến hóa của sự vật sẽ di chuyển theo một quỹ đạo nhất định. Quỹ đạo này được gọi là vòng “Lượng thiên Xích”(sẽ nói trong 1 bài khác).

Bàn về vòng Lượng thiên xích, sách “Trạch vận tân án” có viết:
Thùy đắc Lượng thiên Xích nhất chi,
Bộ lường trung, ngoại cổ kim thi,
Tử sinh đắc thất tùy thám sách,
Quá hiện vị lai liễu liễu tri
Tạm dịch:
Nếu đã nắm được vòng Lượng thiên Xích,
Có thể đo lường mọi chuyện trong, ngoài xưa nay,
Tìm hiểu được sự sống chết và được mất,
Biết rõ quá khứ, hiện tại và tương lai.
Cho nên Huyền không học là môn Phong thủy dựa vào sự di chuyển của 9 con số theo quỹ đạo của vòng Lượng thiên Xích trên đồ hình Bát quái mà đoán định sự cát, hung, được, mất của từng căn nhà (dương trạch) hay phần mộ (âm trạch).

Nhưng tại sao lại phải dựa trên đồ hình Bát quái? Đó là vì ngay từ thời xa xưa, cổ nhân đã biết phác họa ra Bát quái để thu tóm mọi biến chuyển của Trời (thiên văn), Đất (địa lý) vào đó. Theo “Lục kinh đồ”, phần “Ngưỡng quan thiên văn đồ” thì “Phục Hy quan sát thiên văn mà vẽ ra Bát quái. Do đó, phàm những gì thuộc về thiên văn như vòng vận hành của mặt trời, mặt trăng, tinh tú, ngày tháng, bốn mùa. . . không gì mà Bát quái không thu tóm”. Còn sách Phủ Sát địa lý thì viết “Cúi xuống xem xét địa lý mà vạch ra 8 quẻ, cho nên phàm những gì liên quan tới lý lẽ của Đất (địa) như bốn phương chín châu, điểu, thú. thảo mộc, mười hai chi sở thuộc. . . không gì mà Bát quái không cai quản”.

Như vậy, Bát quái chính là sự thu tóm những biến chuyển của Trời, Đất, còn sự di chuyển của 9 con số (còn được gọi là Cửu tinh) theo vòng Lượng thiên Xích chính là những biến hóa, thay đổi của sự vật. Kết hợp những yếu tố này với nhau, tức là đưa sự vận hành của Cửu tinh theo vòng Lượng thiên Xích vào trong đồ hình của Bát quái để thu tóm mọi biến chuyển của Trời, Đất và sự vật chung quanh, tức là những yếu tố khách quan bên ngoài có tác động, ảnh hưởng tới 1 căn nhà hay 1 ngôi mộ thì đương nhiên sẽ biết được vận khí tốt, xấu của căn nhà hay ngôi mộ đó theo từng thời gian nhất định. Đây chính là nguyên nhân của sự hình thành và phát triển của trường phái Phong thủy mang danh là “Huyền không học” (hay Huyền Không Phi tinh).

Về lai lịch của phái Huyền Không thì tuy không ai có thể xác định được chính xác nó được hình thành từ lúc nào hoặc do ai sáng lập, nhưng vì hầu hết những nguyên lý căn bản của phái này đều được trích dẫn từ những tác phẩm về Phong thủy nổi tiếng của Dương quân Tùng (một Phong thủy sư lỗi lạc thời tàn Đường) như “Thiên ngọc Kinh”, “Thanh nang áo Ngữ”, “Đô thiên Bảo chiếu kinh”, cho nên có lẽ phái Huyền Không đã được hình thành từ Thế kỷ IX sau Công Nguyên, và Dương quân Tùng nếu không là người sáng lập thì cũng chính là người đã có công tạo dựng nền tảng và cơ sở vững chắc cho sự phát triển của phái Huyền Không.

Đến đầu thời Tống, danh sư Ngô cảnh Loan cho ra đời những tác phẩm như “Huyền Không bí chỉ” và “Huyền cơ phú” thì Huyền Không đã trở thành 1 trường phái rõ rệt, cũng như có 1 vị trí vững vàng trong nghệ thuật Phong thủy Trung Hoa. Sau này, các danh sư như Tưởng đại Hồng thời Minh, Chương trọng Sơn thời Thanh càng làm cho phái Huyền Không nổi bật lên với những luận đoán cực kỳ chính xác cả về âm trạch lẫn dương trạch.

Tuy nhiên, vì những nguyên lý của Huyền Không vào các thời đại đó đều được giữa hết sức bí mật, nên ít có ai biết hoặc hiểu về Huyền Không, trừ khi được chân truyền. Mãi đến cuối đời nhà Thanh, khi Thẩm trúc Nhưng cho công bố tác phẩm “Thẩm thị Huyền không học” thì những bí mật của Huyền Không mới được làm sáng tỏ. Từ đó đến nay, ảnh hưởng của Huyền Không phái càng ngày càng lan rộng trong đại chúng, nhất là đối với những người yêu thích Phong thủy, hoặc muốn xử dụng Phong thủy để cải tạo nhà cửa, mồ mả để làm cho cuộc sống gặp được nhiều thuận lợi và may mắn hơn.

2.Đặc Tính Cửu Tinh Trong Huyền Không Phi Tinh

Huyền Không phi tinh dựa vào tính chất và sự di chuyển của 9 sao (tức Cửu tinh hay 9 số) mà đoán định họa, phúc của từng căn nhà (dương trạch) hay từng phần mộ (âm trạch). Do đó, biết được tính chất của từng sao, cũng như quỹ đạo vận hành của chúng là điều căn bản cần thiết cho tất cả những ai muốn tìm hiểu hay nghiên cứu về Huyền không học. Cho nên trước khi đi vào những nguyên lý căn bản của Huyền không học thì cần phải biết sơ qua về tính chất của Cửu tinh.
Cửu tinh: tức là 9 con số, từ số 1 tới số 9, với mỗi số đều có tính chất và Ngũ hành riêng biệt, đại lược như sau:

– Số 1: còn gọi là sao Nhất Bạch hoặc Tham Lang: có những tính chất như sau:
• Về Ngũ Hành: thuộc Thủy
• Về màu sắc: thuộc màu trắng
• Về cơ thể: là thận, tai và máu huyết
• Về người: là con trai thứ trong gia đình.
• Về tính chất: nếu vượng hay đi với những sao 4, 6 thì chủ về văn tài xuất chúng, công danh, sự nghiệp thăng tiến. Nếu suy, tử thì mắc bệnh về thận và khí huyết, công danh trắc trở, bị trộm cướp hay trở thành trộm cướp.

– Số 2: còn gọi là sao Nhị Hắc hay Cự Môn, có những tính chất sau:
• Về Ngũ hành: thuộc Thổ.
• Về màu sắc : thuộc màu đen.
• Về cơ thể: là bụng và dạ dày.
• Về người: là mẹ hoặc vợ trong gia đình.
• Về tính chất: nếu vượng thì điền sản sung túc, phát về võ nghiệp, con cháu đông đúc. Suy thì bệnh tật liên miên, trong nhà xuất hiện quả phụ.

– Số 3: còn gọi là sao Tam Bích hay Lộc Tồn, có những tính chất sau:
• Về Ngũ hành: thuộc Mộc.
• Về màu sắc: thuộc màu xanh lá cây.
• Về cơ thể: mật, vai và 2 tay.
• Về người: là con trai trưởng trong gia đình.
• Về tính chất: nếu vượng thì con trưởng phát đạt, lợi cho kinh doanh, vợ cả tốt. Nếu suy thì khắc vợ và hay bị kiện tụng, tranh chấp.

– Số 4: còn gọi là sao Tứ Lục hoặc Văn Xương, có những tính chất sau:
• Về Ngũ hành: thuộc Mộc.
• Về màu sắc: thuộc màu xanh dương (xanh nước biển).
• Về cơ thể: gan, đùi và 2 chân.
• Về người: là con gái trưởng trong gia đình.
• Về tính chất: nếu vượng hoặc đi với sao Nhất Bạch thì văn chương nổi tiếng, đỗ đạt cao, con gái xinh đẹp, lấy chồng giàu sang. Nếu suy, tử thì trong nhà xuất hiện người dâm đãng, phiêu bạt đó đây, bệnh về thần kinh.

– Số 5: còn gọi là sao Ngũ Hoàng, có những tính chất sau:
• Về Ngũ Hành: thuộc Thổ.
• Về màu sắc: thuộc màu vàng.
• Về cơ thể và con người: không.
• Về tính chất: nếu vượng thì tài lộc, nhân đinh đều phát, phú quý song toàn. Nếu suy thì chủ nhiều hung họa, bệnh tật, tai nạn, chết chóc…

– Số 6: còn gọi là sao Lục Bạch hoặc Vũ Khúc: có những tính chất sau:
• Về Ngũ hành: thuộc Kim.
• Về màu sắc: thuộc màu trắng, bạc.
• Về cơ thể: đầu, mũi, cổ, xương, ruột già.
• Về người: là chồng hoặc cha trong gia đình.
• Về tính chất: nếu vượng hoặc đi với sao Nhất Bạch thì công danh hiển hách, văn võ song toàn. Nếu suy thì khắc vợ, mất con, lại hay bị quan tụng, xương cốt dễ gãy.

– Số 7: còn gọi là sao Thất Xích hoặc Phá Quân: có những tính chất sau:
• Về Ngũ hành: thuộc Kim.
• Về màu sắc: thuộc màu đỏ.
• Về cơ thể: phổi, miệng, lưỡi.
• Về người: là con gái út trong gia đình.
• Về tính chất: nếu vượng thì hoạnh phát về võ nghiệp hoặc kinh doanh. Nếu suy thì bị trộm cướp hay tiểu nhân làm hại, đễ mắc tai họa về hỏa tai hay thị phi, hình ngục.

– Số 8: còn gọi là sao Bát Bạch hoặc Tả Phù: có những tính chất sau:
• Về Ngũ hành: thuộc Thổ.
• Về màu sắc: thuộc màu trắng.
• Về cơ thể: lưng, ngực và lá lách.
• Về người: là con trai út trong gia đình.
• Về tính chất: nếu vượng thì nhiều ruộng đất, nhà cửa, con cái hiếu thảo, tài đinh đều phát. Nếu suy thì tổn thương con nhỏ, dễ bị ôn dịch.

– Số 9: còn gọi là sao Cửu tử hay Hữu Bật, có những tính chất sau:
• Về Ngũ hành: thuộc Hỏa.
• Về màu sắc: màu đỏ tía.
• Về cơ thể: mắt, tim, ấn đường.
• Về người: con gái thứ trong gia đình.
• Về tính chất: nếu vượng thì nhiều văn tài, quý hiển sống lâu. Nếu suy thì bị hỏa tai, hoặc tai họa chốn quan trường, bị thổ huyết, điên loạn, đau mắt, sinh đẻ khó khăn.

Không có văn bản thay thế tự động nào.

3.Tam Nguyên, Cửu Vận

Khác với những trường phái Phong thủy được lưu hành từ trước tới nay như Loan đầu, Mật tông, Bát trạch… Huyền không chẳng những dựa vào địa thế và hình cục trong, ngoài, mà còn dựa vào cả yếu tố thời gian để đoán định sự vượng, suy, được, mất của âm-dương trạch.
Một căn nhà có thể được xây dựng trên 1 mảnh đất có địa thế tốt (hoặc xấu), nhưng không phải vì thế mà nó sẽ tốt (hay xấu) vĩnh viễn, mà tùy theo biến đổi của thời gian sẽ đang từ vượng chuyển sang suy, hay đang từ suy chuyển thành vượng. Đó là lý do giải thích tại sao có nhiều gia đình khi mới vào ở 1 căn nhà thì làm ăn rất khá, nhưng 5, 10 năm sau lại bắt đầu suy thoái dần. Hay có những gia đình sau bao nhiêu năm sống trong 1 căn nhà nghèo khổ, bỗng tới lúc con cái ăn học thành tài, gia đình đột nhiên phát hẳn lên… Cho nên đối với Phong thủy Huyền Không thì không những chỉ là quan sát địa hình, địa vật bên ngoài, cấu trúc, thiết kế bên trong căn nhà, mà còn phải nắm vững từng mấu chốt của thời gian để đoán định từng giai đoạn lên, xuống của 1 trạch vận (nhà ở hay phần mộ). Nhưng thời gian là 1 chuyển biến vô hình, chỉ có đi, không bao giờ trở lại, thế thì lấy gì làm căn mốc để xác định thời gian? Để giải quyết vấn đề này, người xưa đã dùng cách chia thời gian ra thành từng Nguyên, Vận. Nguyên là 1 giai đoạn dài khoảng 60 năm hay 1 Lục thập Hoa Giáp. Mỗi Nguyên lại được chia thành 3 vận, mỗi vận kéo dài khoảng 20 năm. Mặt khác, cổ nhân còn định ra Tam Nguyên là:

– Thượng Nguyên: bao gồm 3 vận 1, 2, 3.
– Trung Nguyên: bao gồm 3 vận 4, 5, 6.
– Hạ Nguyên : bao gồm 3 vận 7, 8, 9.

Như vậy, Tam Nguyên Cửu Vận tức là 3 Nguyên: Thượng, Trung, Hạ, trong đó bao gồm 9 Vận, từ Vận 1 tới Vận 9. Tổng cộng là chu kỳ 180 năm, cứ từ Vận 1 (bắt đầu vào năm GIÁP TÝ) đi hết 3 Nguyên (tức 9 Vận) rồi lại trở về Vận 1 Thượng Nguyên lúc ban đầu. Cứ như thế xoay chuyển không ngừng. Còn sở dĩ người xưa lại dùng chu kỳ 180 năm (tức Tam Nguyên Cửu Vận) làm mốc xoay chuyển của thời gian là vì các hành tinh trong Thái Dương hệ cứ sau 180 năm lại trở về cùng nằm trên 1 đường thẳng. Đó chính là năm khởi đầu cho Vận 1 của Thượng Nguyên. Dùng đó làm mốc để tính thời gian, người ta có thể suy ra Tam Nguyên Cửu Vận gần đây nhất là:

THƯỢNG NGUYÊN:
* Vận 1: từ năm 1864- 1883
* Vận 2: từ năm 1884- 1903
* Vận 3: từ năm 1904- 1923.

TRUNG NGUYÊN :
* Vận 4: từ năm 1924- 1943
* Vận 5: từ năm 1944- 1963
* Vận 6: từ năm 1964- 1983

HẠ NGUYÊN:
* Vận 7: từ năm 1984- 2003
* Vận 8: từ năm 2004- 2023
* Vận 9: từ năm 2024- 2043

Như vậy, năm 2043 là năm cuối cùng của vận 9 Hạ Nguyên. Cho nên vào năm 2044 (tức năm GIÁP TÝ) thì lại trở về vận 1 của Thượng Nguyên, cứ như thế xoay chuyển mãi không ngừng. Điều quan trọng cho những ai mới học Huyền Không phi tinh là phải biết rõ năm nào thuộc Vận và Nguyên nào. Chẳng hạn như năm 1980 là thuộc về vận 6 Trung Nguyên, vì nó nằm trong giai đoạn từ năm 1964-1983. Hoặc như năm 1991 là thuộc về vận 7 Hạ Nguyên, vì nó nằm trong giai đoạn từ năm 1984- 2003. Cho nên những nhà cửa hay phần mộ xây trong năm 1991 đều thuộc về vận 7 Hạ Nguyên, hay những nhà xây năm 1980 đều thuộc về vận 6 Trung Nguyên. Có nắm vững được điều này thì mới có thể thiết lập trạch vận cho nhà cửa hay mộ phần được.

4. 24 Sơn – Hướng và Tam Nguyên Long

Hậu thiên Bát quái của Văn Vương được chia làm 8 hướng đều nhau, với mỗi hướng đi liền với một số của Cửu tinh: hướng BẮC (số 1), ĐÔNG BẮC (số 8), ĐÔNG (số 3), ĐÔNG NAM (số 4), NAM (số 9), TÂY NAM (số 2), TÂY (số 7) , TÂY BẮC (số 6). Riêng số 5 vì nằm ở chính giữa (trung cung) nên không có phương hướng. Đem áp đặt Hậu thiên Bát quái lên la bàn gồm 360 độ, thì mỗi hướng (hay mỗi số) sẽ chiếm 45 độ trên la bàn.

Vào thời kỳ phôi phai của học thuật Phong thủy (thời nhà Chu), việc phân chia la bàn thành 8 hướng như vậy đã được kể là quá tinh vi và chính xác. Nhưng sau này, khi bộ môn Phong thủy đã có những bước tiến vượt bậc dưới thời Đường – Tống, khoảng cách 45 độ được xem là quá lớn và sai lệch qúa nhiều. Để cho chính xác hơn, người ta lại chia mỗi hướng ra thành 3 sơn đều nhau, mỗi sơn chiếm 15 độ. Như vậy trên la bàn lúc này đã xuất hiện 24 sơn. Người ta lại dùng 12 Địa Chi, 8 Thiên Can (đúng ra là 10, nhưng 2 Can Mậu-Kỷ được quy về trung cung cho Ngũ Hoàng nên chỉ còn 8 Can) và 4 quẻ Càn – Khôn – Cấn – Tốn mà đặt tên cho 24 sơn như sau:

– Hướng BẮC (số 1): Gồm 3 sơn NHÂM–TÝ-QUÝ
– Hướng ĐÔNG BẮC (số 8): 3 sơn SỬU–CẤN–DẦN
– Hướng ĐÔNG (số 3): 3 sơn GIÁP–MÃO–ẤT
– Hướng ĐÔNG NAM (số 4) 3 sơn THÌN–TỐN–TỴ
– Hướng NAM (số 9): 3 sơn BÍNH–NGỌ–ĐINH
– Hướng TÂY NAM (số 2): 3 sơn MÙI–KHÔN–THÂN
– Hướng TÂY (số 7): 3 sơn CANH–DẬU–TÂN
– Hướng TÂY BẮC (số 6): 3 sơn TUẤT–CÀN–HỢI

Tất cả 24 sơn trên la bàn đều được xếp theo thứ tự từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ. Chẳng hạn như hướng BẮC có 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ, sơn NHÂM chiếm 15 độ phía bên trái, sơn TÝ chiếm 15 độ nơi chính giữa hướng BẮC, còn sơn QUÝ thì chiếm 15 độ phía bên phải. Tất cả các sơn khác cũng đều theo thứ tự như thế.

Mỗi sơn được xác định với số độ chính giữa như: sơn NHÂM tại 345 độ; TÝ 360 độ hay 0 độ; QUÝ 15 độ; SỬU 30 độ; CẤN 45 độ; DẦN 60 độ; GIÁP 75 độ; MÃO 90 độ; ẤT 105 độ; THÌN 120 độ; TỐN 135 đô; TỴ 150 độ; BÍNH 165 độ; NGỌ 180 độ; ĐINH 195 độ; MÙI 210 độ; KHÔN 225 độ; THÂN 240 độ; CANH 255 độ; DẬU 270 độ; TÂN 285 độ; TUẤT 300 độ; CÀN 315 độ; HỢI 330 độ;

Phần trên là tọa độ chính giữa của 24 sơn. Từ tọa độ đó người ta có thể tìm ra phạm vi của mỗi sơn chiếm đóng trên la bàn, bằng cách đi ngược sang bên trái, cũng như sang bên phải của tọa độ trung tâm, mỗi bên là 7 độ 5 (vì phạm vi mỗi sơn chỉ có 15 độ). Chẳng hạn như hướng MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu đi ngược sang bên trái 7 độ 5 (tức là trừ đi 7 độ 5) thì được 202 độ 5. Sau đó từ tọa độ trung tâm là 210 độ lại đi thuận qua phải 7 độ 5 (tức là cộng thêm 7 độ 5) thì được 217 độ 5. Như vậy phạm vi sơn MÙI sẽ bắt đầu từ 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5 trên la bàn.

Tọa độ của 24 hướng trên la bàn

Chính Hướng và Kiêm Hướng

Một vấn đề làm cho người mới học Phong thủy khá bối rối là thế nào là Chính Hướng và kiêm Hướng? Thật ra, điều này cũng không khó khăn gì cả, vì khi đo hướng nhà (hay hướng mộ) mà nếu thấy hướng nhà (hay hướng mộ đó) nằm tại tọa độ trung tâm của 1 sơn (bất kể là sơn nào) thì đều được coi là Chính Hướng. Còn nếu không đúng với tọa độ tâm điểm của 1 sơn thì được coi là Kiêm Hướng. Kiêm hướng lại chia ra là kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái, rồi kiêm nhiều hay kiêm ít. Nếu kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái thì hướng nhà không được xem là thuần khí nữa, vì đã lấn sang phạm vi của sơn bên cạnh (điều này sẽ nói rõ hơn trong phần Tam nguyên long). Nói kiêm phải hay kiêm trái là lấy tọa độ tâm điểm của mỗi sơn làm trung tâm mà tính. Chẳng hạn như sơn MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu bây giờ 1 căn nhà có hướng là 215 độ thì nhà đó thuộc hướng MÙI (vì sơn MÙI bắt đầu từ khoảng 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5), nhưng kiêm bên phải 5 độ. Nhưng trong thuật ngữ Phong thủy thì người ta lại không nói kiêm phải hoặc trái, mà lại dùng tên của những hướng được kiêm để gọi nhập chung với hướng của ngôi nhà đó. Như trong trường hợp này là nhà hướng MÙI kiêm phải 5 độ, nhưng vì hướng bên phải của hướng MÙI là hướng KHÔN, nên người ta sẽ nói nhà này “hướng MÙI kiêm KHÔN 5 độ” tức là kiêm sang bên phải 5 độ mà thôi.

Riêng với vấn đề kiêm nhiều hay ít thì 1 hướng nếu chỉ lệch sang bên phải hoặc bên trái khoảng 3 độ so với tọa độ tâm điểm của hướng đó thì được coi là kiêm ít, và vẫn còn giữa được thuần khí của hướng. Còn nếu lệch quá 3 độ so với trung tâm của 1 hướng thì được coi là lệch nhiều, nên khí lúc đó không thuần và coi như bị nhận nhiều tạp khí. Những trường hợp này cần được dùng Thế quái (hay số thế, sẽ nói trong 1 dịp khác) để hy vọng đem được vượng khí tới hướng hầu biến hung thành cát mà thôi.

Tam nguyên long

Sau khi đã biết được 24 sơn (hay hướng) thì còn phải biết chúng thuộc về Nguyên nào, và là dương hay âm, để có thể xoay chuyển phi tinh Thuận hay Nghịch khi lập trạch vận. Nguyên này không phải là “Nguyên” chỉ thời gian như đã nói trong “Tam Nguyên Cửu Vận”, mà là chỉ địa khí của long mạch, hay phương hướng của trái đất mà thôi.

Tam nguyên long bao gồm: Địa nguyên long, Thiên nguyên long, và Nhân nguyên long. Mỗi Nguyên bao gồm 8 sơn (hay 8 hướng), trong đó có 4 sơn dương và 4 sơn âm như sau:

– THIÊN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn :
* 4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN.
* 4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU.

– ĐỊA NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:
* 4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH.
* 4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI.

– NHÂN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:
* 4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI.
* 4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ.

Với sự phân định âm hay dương của mỗi hướng như trên, người ta có thể biết được lúc nào phi tinh sẽ đi thuận hoặc đi nghịch khi xoay chuyển chúng theo vòng LƯỢNG THIÊN XÍCH. (điều này sẽ được nói rõ trong phần lập tinh bàn cho trạch vận ở 1 mục khác).

Ngoài ra, nếu nhìn kỹ vào sự phân chia của Tam nguyên Long ta sẽ thấy trong mỗi hướng của Bát quái được chia thành 3 sơn, và bao gồm đủ ba Nguyên: Địa, Thiên và Nhân, theo chiều kim đồng hồ. Thí dụ như hướng BẮC được chia thành 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ, với NHÂM thuộc Địa nguyên long, TÝ thuộc Thiên nguyên long, và QUÝ thuộc Nhân nguyên long. Các hướng còn lại cũng đều như thế, nghĩa là Thiên nguyên long ở chính giữa, Địa nguyên long nằm bên phía tay trái, còn Nhân nguyên long thì nằm bên phía tay phải. Từ đó người ta mới phân biệt ra Thiên nguyên long là quẻ Phụ mẫu, Địa nguyên long là Nghịch tử (vì nằm bên tay trái của Thiên nguyên long tức là nghịch chiều xoay chuyển của vạn vật), còn Nhân nguyên long là Thuận tử. Trong 3 nguyên Địa-Thiên-Nhân thì Thiên và Nhân là có thể kiêm được với nhau (vì là giữa phụ mẫu và thuận tử). Còn Địa nguyên long là nghịch tử chỉ có thể đứng 1 mình, không thể kiêm phụ mẫu hay thuận tử. Nếu Địa kiêm Thiên tức là âm dương lẫn lộn (hay âm dương sai thố). Nếu Địa kiêm Nhân thì sẽ bị xuất quái.

– Thí dụ: Nhà hướng MÙI 205 độ. Vì hướng MÙI bắt đầu từ 202 độ 5, nên nhà hướng 205 độ cũng vẫn nằm trong hướng MÙI, nhưng kiêm sang phía bên trái 5 độ, tức là kiêm hướng ẤT 5 độ. Vì hướng MÙI là thuộc Địa nguyên long (tức Nghịch tử), chỉ có thể lấy chính hướng (210 độ) chứ không thể kiêm, cho nên trường hợp này là bị phạm xuất quái, chủ tai họa, bần tiện. Ngược lại, nếu 1 căn nhà có hướng là 185 độ, tức là hướng NGỌ kiêm ĐINH 5 độ. Vì NGỌ là quẻ Phụ mẫu, kiêm sang bên phải tức là kiêm Thuận tử nên nhà như thế vẫn tốt chứ không xấu. Đây là 1 trong những yếu tố căn bản và quan trọng của Huyền không Học, cần phải biết và phân biệt rõ ràng. Có như vậy mới biết được tuy 2 nhà cùng 1 trạch vận, nhưng nhà thì làm ăn khá, mọi người sang trọng, có khí phách, còn nhà thì bình thường, con người cũng chỉ nhỏ mọn, tầm thường mà thôi. Cho nên sự quý, tiện của 1 căn nhà phần lớn là do có biết chọn đúng hướng hoặc biết kiêm hướng hay không mà ra. Những điều này sẽ được nói rõ hơn trong phần Lập hướng và Kiêm hướng.

la ban phong thuy
Không có văn bản thay thế tự động nào.Không có văn bản thay thế tự động nào.Không có văn bản thay thế tự động nào.Không có văn bản thay thế tự động nào.

5.PHƯƠNG PHÁP LẬP TINH BÀN

Nói tới Huyền Không, hình ảnh đầu tiên người ta nghĩ tới là một Tinh Bàn 9 ô, với những con số từ 1 tới 9, gọi là Phi Tinh. Tinh Bàn là “hạ tầng cơ sở” của Huyền Không. Không có Tinh Bàn thì chẳng có gì để nói. Cũng vậy, Người muốn thâm nhập vào lĩnh vực Huyền Không mà không nắm vững tinh bàn thì coi như chưa biết gì

Xác định Tọa – Hướng nhà:
Trước tiên xác định độ số (Toạ độ của hướng nhà) mà ta đã đo, áp dụng vào sơ đồ của ngôi nhà.
Ta cần nắm vững Lường Thiên Xích: Là hướng bay của cửu tinh khi có một sao nhập trung cung
Lường Thiên Xích có Thuận và Nghịch ( Xem bài Lường Thiên Xích)
Dựa Theo Hậu Thiên Bát quái tìm Sơn & Hướng:
Hậu thiên bát quái được chia thành tám hướng đều nhau, mỗi hướng chiếm 45 độ trên la bàn và đi với một số của cửu tinh:

Hướng BẮC (số 1),

ĐÔNG BẮC (số 8),

ĐÔNG (số 3),

ĐÔNG NAM (số 4),

NAM (số 9),

TÂY NAM (số 2),

TÂY (số 7) ,

TÂY BẮC (số 6).

Riêng số 5 vì nằm ở chính giữa – Gọi là Trung Cung
Mỗi hướng lại chia thành 3 sơn, mỗi sơn chiếm 15 độ:
– Hướng BẮC (số 1): Gồm 3 sơn NHÂM–TÝ-QUÝ
– Hướng ĐÔNG BẮC (số 8): 3 sơn SỬU–CẤN–DẦN
– Hướng ĐÔNG (số 3): 3 sơn GIÁP–MÃO–ẤT
– Hướng ĐÔNG NAM (số 4) 3 sơn THÌN–TỐN–TỴ
– Hướng NAM (số 9): 3 sơn BÍNH–NGỌ–ĐINH
– Hướng TÂY NAM (số 2): 3 sơn MÙI–KHÔN–THÂN
– Hướng TÂY (số 7): 3 sơn CANH–DẬU–TÂN
– Hướng TÂY BẮC (số 6): 3 sơn TUẤT–CÀN–HỢI
Độ số chính giữa của mỗi sơn: sơn NHÂM tại 345 độ;TÝ 360 độ hay 0 độ; QUÝ 15 độ; SỬU 30 độ; CẤN 45 độ; DẦN 60 độ; GIÁP 75 độ; MÃO 90 độ; ẤT 105 độ; THÌN 120 độ; TỐN 135 đô; TỴ 150 độ; BÍNH 165 độ; NGỌ 180 độ; ĐINH 195 độ; MÙI 210 độ; KHÔN 225 độ; THÂN 240 độ; CANH 255 độ; DẬU 270 độ; TÂN 285 độ; TUẤT 300 độ; CÀN 315 độ; HỢI 330 độ; Độ chính giữa (+)(-) 3 độ thì gọi là chính hướng. Còn (+)(-) trên 3 độ thì gọi là kiêm hướng.
Tam nguyên long:
Tam nguyên long gồm có : Thiên nguyên long, nhân nguyên long và địa nguyên long
*** THIÊN NGUYÊN LONG: có 8 sơn :
* 4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN.
* 4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU.
*** ĐỊA NGUYÊN LONG: có 8 sơn:
* 4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH.
* 4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI.
*** NHÂN NGUYÊN LONG: có 8 sơn:
* 4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI.
* 4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ.
Dựa vào tính chất âm dương của tam nguyên long mà ta sẽ biết được lường thiên xích đi thuận hay đi nghịch.
Phương pháp lập tinh bàn:

*** Có 9 Mục cấu thành Tinh Bàn:

– Vận Tinh

– Hướng Tinh

– Sơn Tinh

– Lạc Thư

– Hướng Cổng

– Lưu Niên Phi Tinh

– Nguyệt Tinh

– Nhật Tinh

– Thời Tinh.

1 – Vận bàn ( Vận tinh ):
Thời gian được chia làm 3 nguyên, gồm: thượng nguyên, trung nguyên và hạ nguyên.

Mỗi nguyên lại chia làm 3 vận. Mỗi vận là 20 năm
– Thượng Nguyên gồm: Vận 1, 2, 3. Tổng cộng là 60 năm
– Trung nguyên gồm : Vận 4, 5, 6. Tổng cộng 60 năm
– Hạ nguyên gồm : Vận 7, 8, 9. Tổng cộng 60 năm
Tổng 3 nguyên là 180 năm. Hết hạ nguyên lại tới thượng nguyên.
Chúng ta đang sống trong hạ nguyên;
– Vận 7 từ 1984 đến 2003
– Vận 8 từ 2004 đến 2023
– Vận 9 từ 2024 đến 2043
Đến vận của sao nào thì lấy sao đó nhập trung cung, xác định các sao khác theo vòng lường thiên xích thuận. Thí dụ: Nay ta đang ở vận 8. Lấy 8 nhập trung cung bay thuận ta được vận bàn.

2 – Hướng bàn ( Hướng Tinh ): Sau khi có vận bàn ta lấy số ở hướng cho nhập trung cung, rồi cho bay thuận hay nghịch theo tính chất âm dương của cung nguyên thủy cùa sao ấy.
Thí dụ: Nhà tọa Càn hướng Tốn, Hướng có sao số 7, lấy 7 nhập trung cung, Tốn là thiên nguyên long.

Thiên nguyên long của 7 là Dậu, Dậu tính chất là Âm nên 7 bay nghịch ( thường thì hướng tinh đặt bên phải của vận tinh )
3 – Sơn bàn ( Sơn Tinh ): “Sơn” chỉ khu vực sau nhà, tức phương toạ. Lấy số của vận bàn tại phương toạ đem nhập trung cung, để ở góc bên trái. Xem phương toạ là sơn gì? Thuộc tam nguyên long nào?

Thí dụ: Toạ càn thuộc thiên nguyên long. Tiếp theo coi số của vận tinh thuộc tam nguyên long đó tính chất âm dương là gì? Nếu là dương thì theo lường thiên xích thuận còn nếu là âm thì theo lường thiên xích nghịch.

Thí dụ: Ở Vận 8 thì vận tinh tại càn là 9. Thiên nguyên long của 9 là ngọ, tính chất của ngọ là âm . Vậy 9 nhâp trung cung bay nghịch.

Tóm tắt
– lấy số của vận bàn tại toạ hoặc hướng nhập trung cung.
– Nếu là thiên hoặc nhân nguyên long: Số chẵn bay thuận, số lẻ bay nghịch.
– Nếu là địa nguyên long: Số chẵn bay nghịch, số lẻ bay thuận.

– Còn lại các phần Nguyệt – Nhật – Thời Tinh……… sẽ phân tích sau.

1 2 3 4 5 6

6.Tổng Luận Phi Tinh

Sau khi đã có sơ đồ phi tinh, tiến hành luận đoán tốt xấu để có phương án bài trí cho phù hợp. Hai cung quan trọng nhất đó là toạ và hướng, bởi hướng là nơi nạp Thiên khí vào nhà chủ quản hoạ phúc. Toạ là nơi nạp Địa khí chủ về nhân đinh, hậu vận. Mỗi cung toạ và hướng có các Phi Tinh Sơn và Hướng, căn cứ vào Sơn Tinh và Hướng Tinh kết hợp để luận đoán tốt xấu. Sau đây luận các cách kết hợp của Sơn Tinh và Hướng Tinh.
Luận phải lấy vượng làm chính, lấy suy làm ngược lại, vượng tinh thì tốt chủ cát lành, suy tinh thì chủ hung bại. Vượng tinh cần được sinh phù, suy tinh cần thu sơn xuất sát. Những cửa chính, cửa phụ được cát tinh sinh vượng chiếu nên sinh hoạt, đi lại nhiều hoặc mở cửa sổ lớn để đón khí. Trường hợp bị hung tinh suy tử chiếu thì cần có cách thức trấn yểm, hoá giải phù hợp, tốt nhất là hạn chế đi lại hoặc mở cửa ở phương khác tốt hơn.

Nhất Bạch
11 : Đào hoa, vượng ứng với quan tinh, chủ văn xương, độc thư, thông minh, văn tài xuất chúng. Suy ứng với tai máu thận suy, di tinh tiết huyết, dâm đãng, x ảy thai, bất đắc chí.
12 : Dễ mắc bệnh dạ dày, ruột, bệnh thận, tai máu, nữ mắc phụ khoa, đẻ non, sảy thai. Trung nam không thuận phải ly tổ bôn ba, quan lộc bị x âm hại.
13 : Tranh chấp, quan phi, đạo tặc, phá tài
14 : Ra ngoài có lợi, dễ thăng chức, văn chương phát quý nổi danh, tài vượng, phụ nữ sang quý. Nếu suy sinh dâm đãng.
15 : Tổn hại nhân đinh, dễ mắc bệnh thận, tai máu, trung nam bị tổn hại.
16 : Phú quý cát lợi, văn tài thông minh, hãm thì dâm loạn
17 : Đào hoa, ra ngoài cát lợi. Nếu hãm thì thương tích, thị phi, tham luyến tửu sắc.
18 : Phạm bệnh tật tai máu, trung nam bất lợi tha hương lưu lạc.
19 : Thuỷ hoả không dung, phạm bệnh tật mắt, tinh thần, trước tốt sau xấu.
Nhị Hắc
21 : Nữ bệnh phụ khoa, tràng vị, nam mắc bệnh tai máu thận, trung nam tổn hại.
22 : Bệnh tật, nữ bệnh phụ khoa, nam mắc bệnh đường ruột. Đắc v ận thì giàu có.
23 : Cách Đấu Ngưu sát chủ quan phi, kiện tụng, khẩu thiệt. Mẹ già tổn hại.
24 : Bất hoà, bệnh phong hàn, khẩu thiệt, kiện tụng, sinh nở khó, hại mẹ già.
25 : Tổn thất nhân đinh, cô quả, mẹ nhiều bệnh.
26 : Đất đai vượng phát, tăng tài, buôn bán phát đạt.
27 : Tiến tài, nhiều hỷ sự, nếu hãm phạm đào hoa, khẩu thiệt, tán tài.
28 : Cách hợp thập chủ cát lợi, dễ đi xa
29 : Sinh đẻ nhiều, nếu v ượng chủ văn tài, thất v ận phòng bệnh tật, sinh người ngu đần.
Tam Bích
31 : Thị phi khẩu thiệt tranh đấu phá tài. Nếu đắc lệnh thì phát quý.
32 : Cách Đấu Ngưu sát chủ thị phi tranh đấu đạo tặc, hại mẹ già, bệnh đường ruột.
33 : Quan phi, thị phi, đạo tặc, đắc lệnh thì phú quý.
34 : Đào hoa, kiếp tặc hại cho nữ. Đắc lệnh văn tài phú quý nổi danh.
35 : Hại tì vị, chủ nhân bất an, hại cho trưởng nam.
36 : Trưởng nam bất lợi, quan phi, thương tích chân tay, đắc lệnh thì quyền uy, phát văn tài.
37 : Phá tài, kiếp đạo, dâm đãng, hại trưởng nam
38 : Bất lợi nhiều bệnh tật, phá tài, tuyệt hậu
39 : Thông minh tiến tài, sinh quý tử
Tứ Lục
41 : Đào hoa dâm đãng, nếu sinh vượng thì xuất ngoại thành danh, v ăn tài xuất chúng
42 : Bệnh tật tỳ vị, hại mẹ già.
43: Dâm loạn, đạo tặc, hại thiếu nữ
44 : Đào hoa, ly tổ, sinh v ượng thì có quý nhân phù trợ, văn tài thành danh.
45 : Nhiều bệnh tốn tài. Sinh vượng thì nhà cửa hưng v ượng
46 : Trước lành sau x ấu, khó sinh, bất lợi trưởng nữ
47 : Cô qủa bất hoà, nạn đao thương thổ huyết, hại trưởng nữ. Sinh vượng thì xuất hiện giai nhân tài sắc
48 : Tổn tài, hại thiếu nam, bệnh phong tật thấp khớp, đào hoa. Tốt lành tiến tài, lợi điền sản.
49 : Sinh quả phụ, đào hoa. Sinh vượng thì Mộc Hoả thông minh, xuất hiện danh sĩ.
Ngũ Hoàng
51 : Tổn nhân đinh, hại trung nam nhiều bệnh tật, bệnh tai máu thận.
52 : Sinh cô quả phụ, nhiều bệnh, bệnh tỳ vị.
53 : Hại trưởng nam, phá tài, nhiều bệnh tật
54 : Phá tài, hại nhân khẩu, bệnh tật
55 : Rất x ấu chủ bệnh tật, hao người tốn của
56 : Nếu sinh vượng thì rất tốt
57 : Bệnh tật, kiếp đạo, đắc thì tiến tài nhiều hỷ sự
58 : Bất lợi thiếu nam, đắc thì cát chủ hoạnh phát tài
59: Sinh nở khó, bệnh tật, thương vong, ăn chơi phá tài
Lục Bạch
61 : Đào hoa dâm loạn, sinh nở khó. Đắc thì quan lộc hanh thông
62 : Bệnh tật, phụ khoa, tổn tài
63 : Tai nạn, bất an, hại trưởng nam
64 : Ly tán, tai nạn, bất an, hại trưởng nữ
65 : Bệnh tinh thần, đắc thì phát tài
66 : Hại trưởng nam, người già, đắc thì quan vận tốt, quyền hành, văn tài xuất hiện.
67 : Đao kiếm sát phạm đao thương, tổn tài, thị phi quan tụng
68 : Đại cát nhiều hỷ sự, lợi quan lộc
69 : Bệnh phế huyết hoả tai, hại cho cha già
Thất Xích
71 : Kim thuỷ đa tình đào hoa, ly hương xuất ngoại, tổn hại lục súc
72 : Khẩu thiệt thị phi hoả tai. đắc vận thì hợp thành Hoả tiên thiên lợi nhị hắc nên phát tài.
73 : Thương trưởng nam, bội nghĩa, thị phi, bệnh tật, quan phi
74 : Hại trưởng nữ, đao thương, bệnh thần kinh
75 : Nhiều bệnh bất an, tửu sắc phá tài
76 : Đao kiếm sát, tổn tài, sinh nhiều nữ
77 : Tổn tài, thị phi. Sinh vượng thì hỷ sự phát tài, sinh nhiều nữ
78 : Cầu tài danh đều lợi, nam nữ đa tình
79 : Tai nạn bệnh tâm khí, hại cho nữ nhỏ
Bát Bạch
81 : Hại trung nam, bệnh tai máu thận
82 : Bệnh tật, hại mẹ già, thiếu niên lao khổ, sinh vượng thì phát tài chủ tốt
83 : Bất lợi, ly hôn, hại thiếu nam
84 : Cô quả, khó sinh nở, hại thiếu nam
85 : Bệnh tật, tai nạn, hại thiếu nam
86 : Văn tài, thông minh cát lợi, sinh quý tử
87 : Sinh v ượng thì tốt cho thiếu nam, thiếu nữ, tài lộc vượng
88 : Đại cát, sinh nhiều con trai
89 : Đinh tài đều vượng nhiều hỷ sự
Cửu Tử
91 : Cách Thuỷ Hoả Ký Tế lợi văn chương, có nhiều danh vọng, công danh tốt.
92 : Phạm bệnh tật, bệnh mắt, phụ khoa
93 : Quan phi khẩu thiệt. Nếu sinh vượng sinh văn sĩ
94 : Đào hoa, hao tài
95 : Nhiều bệnh tật, hoả tai
96 : Sinh bệnh tật, bệnh não, thổ huyết, quan hình
97 : Phá tại, hại thiếu nữ, quan phi khẩu thiệt
98 : Cát lành hỷ sự
99 : Bệnh mắt bệnh thần kinh, sinh vượng thì tốt

Cửu cung phi tinh là gì?
Phong thủy học còn đem 8 quẻ trong Bát quái vào trong Cửu cung, lấy sự lên xuống của phi tinh trong mỗi quẻ để phán đoán hung cát của vịt trí này. Quẻ trong Bát quái là cố định, nhưng phi tinh lại không ngừng thay đổi lên xuống. Vì vậy, không phải mỗi một phi tinh đại diện cố định cho một quẻ nào đó mà phi tinh này tọa ở một quẻ nào đó sẽ dẫn đến sự thay đổi tương ứng của quẻ đó.

Nhất Bạch (Thủy) – cát tinh chủ về nhân duyên, tài phú.
Nhị Hắc (Thổ) – hung tinh chủ về bệnh tật, đau ốm.
Tam Bích (Mộc) – hung tinh chủ về sự tranh chấp, thị phi, hao tốn.
Tứ Lục (Mộc) – cát tinh chủ về học hành, trí thức, học vấn.
Ngũ Hoàng Đại Sát (Thổ) – đại hung tinh, bệnh tật, tai họa, thất bại, phá tài, kiện tụng, thị phi.
Lục Bạch (Kim) – cát tinh chủ sự thăng tiến về tài vận, quan lộc.
Thất Xích (Kim) – hung tinh chủ về sự hao tán tài sản, công danh.
Bát Bạch (Thổ) – cát tinh chủ về sự thăng tiến về tài lộc, quan chức.
Cửu Tử (Hỏa) – cát tinh về chủ nhân duyên, tử tức.